DaoPhap.comĐạo Pháp
Lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ

Phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX: hội Phật học, tạp chí, trường học

Những năm 1920 – 1940, tăng sĩ và cư sĩ ba miền lập hội Phật học, ra tạp chí quốc ngữ, mở trường đào tạo tăng ni. Bài kể phong trào chấn hưng qua các mốc chính.

Old wooden shelves in a pagoda storeroom holding stacks of closed antique books and carved woodblocks, dust floating in a shaft of window light, warm brown tones, close view

Phong trào chấn hưng Phật giáo là nỗ lực của tăng sĩ và cư sĩ Việt Nam trong khoảng những năm 1920 đến 1940 nhằm phục hồi đời sống tu học đã sa sút: lập các hội nghiên cứu Phật học ở cả ba miền, ra tạp chí bằng chữ quốc ngữ, dịch kinh, mở trường đào tạo tăng ni, chỉnh đốn nghi lễ và đưa Phật pháp đến thanh thiếu niên.

Ba mốc dễ nhớ nhất là ba hội lớn: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931, Sài Gòn), An Nam Phật học hội (1932, Huế) và Bắc Kỳ Phật giáo hội (1934, Hà Nội). Bài này giới thiệu bối cảnh, các hội, tạp chí, những việc phong trào đã làm, và những gì nó để lại. Phạm vi bài dừng ở giữa thế kỷ XX, chỉ nói về hoạt động học thuật, giáo dục, tổ chức tu học.

Bối cảnh: vì sao cần "chấn hưng"

Chữ "chấn hưng" có nghĩa là làm cho hưng thịnh trở lại, nên trước hết phải hiểu tình trạng mà những người đương thời muốn thay đổi. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Hán học suy dần khi khoa cử chữ Hán chấm dứt, trong khi kinh sách Phật giáo vẫn chủ yếu bằng chữ Hán. Nhiều tăng sĩ trẻ thiếu điều kiện học hành bài bản; nhiều người đi chùa tụng kinh mà không hiểu nghĩa. Các tác giả đương thời cũng phàn nàn về tình trạng mê tín, cúng bái tốn kém gá vào chùa.

Cùng lúc, ở Trung Hoa, phong trào cải cách Phật giáo do Thái Hư đại sư khởi xướng đang lan rộng, với chủ trương cải cách giáo dục tăng sĩ, tổ chức giáo hội và dùng báo chí hiện đại. Tạp chí Hải Triều Âm của phong trào này được một số tăng sĩ Việt Nam đọc và chịu ảnh hưởng. Các phong trào phục hưng Phật giáo ở Sri Lanka, Nhật Bản cũng tạo nên không khí chung ở châu Á.

Thêm một yếu tố quan trọng: chữ quốc ngữ và báo chí phát triển mạnh trong những năm 1920, 1930. Lần đầu tiên, giáo lý có thể được trình bày bằng thứ chữ mà đông đảo người Việt đọc được, in hàng loạt và gửi đi khắp nơi. Đây là công cụ mà các thế hệ trước không có.

Ba hội lớn ở ba miền

Ngoài ba hội dưới đây còn nhiều hội và nhóm nhỏ hơn ở các tỉnh. Năm thành lập là mốc được các bộ sử Phật giáo cận đại ghi nhận phổ biến; chi tiết điều lệ, thành phần ban trị sự nên tra trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu.

HộiNăm, nơi thành lậpTạp chí gắn với hộiĐặc điểm thường được nêu
Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học1931, Sài GònTừ Bi Âm (từ 1932)Hội lớn đầu tiên; kế thừa nỗ lực của Hòa thượng Khánh Hòa và các tăng sĩ Nam Kỳ từ thập niên 1920
An Nam Phật học hội1932, HuếViên Âm (từ 1933)Kết hợp chặt giữa chư tăng và cư sĩ trí thức, tiêu biểu là cư sĩ Lê Đình Thám; chú trọng mở trường Phật học
Bắc Kỳ Phật giáo hội1934, Hà NộiĐuốc Tuệ (từ 1935)Lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở; nhiều cư sĩ trí thức tham gia, hoạt động giảng dạy và từ thiện
Hội Lưỡng Xuyên Phật học1934, Trà Vinh (nay thuộc Vĩnh Long)Duy TâmMột hội lớn khác ở miền Tây Nam Bộ, lập trường Phật học

Điểm chung của các hội là cấu trúc hiện đại: có điều lệ, ban trị sự, hội viên đóng góp, chi hội ở các tỉnh. Đây là lần đầu Phật giáo Việt Nam tổ chức theo mô hình hội đoàn, khác hẳn mô hình chùa riêng lẻ theo dòng truyền thừa của những thế kỷ trước.

Phong trào đã làm những việc gì

Báo chí và xuất bản. Ngoài các tạp chí gắn với ba hội, còn có những tạp chí sớm hơn như Pháp Âm ở Nam Kỳ cuối thập niên 1920, thường được nhắc là một trong những tạp chí Phật giáo quốc ngữ đầu tiên. Các tạp chí đăng bài giảng giáo lý, dịch kinh, tin hoạt động, tranh luận học thuật.

Dịch kinh sang quốc ngữ. Nhiều bản kinh phổ biến được dịch hoặc phiên âm, giải nghĩa bằng chữ quốc ngữ, giúp Phật tử hiểu những gì mình tụng. Đây là thay đổi lớn đối với thói quen đọc tụng kinh chữ Hán mà không hiểu nghĩa trước đó.

Mở trường đào tạo tăng ni. Các hội lập Phật học đường, trường sơ đẳng, trung đẳng Phật học, có chương trình học, có thầy giảng dạy theo môn. Nhiều tăng ni được đào tạo trong các trường này về sau trở thành những vị thầy có ảnh hưởng.

Chỉnh đốn nghi lễ và nếp sinh hoạt. Phong trào kêu gọi giản lược những nghi thức tốn kém, phân biệt việc Phật với những tục gá vào chùa, khuyến khích Phật tử học hiểu giáo lý thay vì chỉ cúng bái.

Đưa đạo Phật đến thanh thiếu niên. Ở Huế, năm 1940, nhóm của cư sĩ Lê Đình Thám lập Gia đình Phật hoá phổ, sinh hoạt cho thanh thiếu niên theo tinh thần Phật giáo; đây được xem là tiền thân của tổ chức Gia đình Phật tử về sau.

Nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Phong trào thúc đẩy việc viết sử Phật giáo Việt Nam bằng quốc ngữ; cuốn Việt Nam Phật giáo sử lược của Thích Mật Thể, in năm 1943, là một thành quả tiêu biểu.

Ba miền, ba sắc thái

Dù cùng một tinh thần, phong trào ở mỗi miền mang dáng vẻ riêng, phản ánh hoàn cảnh xã hội từng nơi. Ở Nam Kỳ, phong trào khởi đầu sớm nhất, chủ yếu do các tăng sĩ vận động, và có nhiều hội, nhiều tạp chí cùng lúc. Sự phong phú ấy đi kèm với việc lực lượng phân tán, các hội nhỏ hoạt động song song, mỗi hội một trọng tâm.

Ở Trung Kỳ, An Nam Phật học hội đặt trụ sở ở Huế, nơi có truyền thống các chùa lớn và dòng thiền Liễu Quán. Hội kết hợp chặt chẽ giữa các bậc tăng già có uy tín với nhóm cư sĩ trí thức, lập chi hội ở nhiều tỉnh miền Trung và đặc biệt chú trọng việc mở trường Phật học cho tăng ni. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đây là nơi phong trào có tổ chức chặt chẽ nhất.

Ở Bắc Kỳ, Bắc Kỳ Phật giáo hội ra đời muộn hơn nhưng nhanh chóng có quy mô lớn, với trụ sở là chùa Quán Sứ và tạp chí Đuốc Tuệ. Hoạt động gồm giảng kinh định kỳ, mở trường đào tạo tăng ni, làm từ thiện, và vận động chỉnh đốn những tục lệ tốn kém ở chùa làng, nơi Phật giáo vốn quyện chặt với tín ngưỡng dân gian từ nhiều thế kỷ. Hiểu ba sắc thái này giúp bạn không ngạc nhiên khi thấy nếp sinh hoạt Phật giáo mỗi miền hôm nay vẫn khác nhau.

Vai trò của cư sĩ trí thức

Một nét mới của phong trào là sự tham gia mạnh mẽ của cư sĩ, đặc biệt là trí thức Tây học: bác sĩ, giáo viên, nhà báo, công chức. Họ mang vào phong trào kỹ năng tổ chức hội, viết báo, dịch thuật, cùng cách trình bày giáo lý phù hợp với người đọc có học vấn mới. Cư sĩ Lê Đình Thám ở Huế, một bác sĩ, là ví dụ thường được nhắc tới nhất.

Sự kết hợp tăng sĩ và cư sĩ tạo nên một mô hình làm việc mới: chư tăng giữ vai trò thầy dạy giáo lý và đời sống tu hành, cư sĩ đảm nhận phần tổ chức, xuất bản, quan hệ xã hội. Mô hình này có ảnh hưởng lâu dài tới cách các tổ chức Phật giáo Việt Nam vận hành về sau.

Cũng cần ghi nhận rằng giữa các nhóm có những khác biệt về quan điểm, về cách hiểu "cải cách" đến đâu là vừa, về vai trò của cư sĩ so với tăng sĩ. Những tranh luận này được ghi lại trên chính các tạp chí đương thời. Đọc lại chúng hôm nay cho thấy một phong trào sôi nổi, nhiều tiếng nói, không đơn tuyến.

Những gì phong trào chấn hưng để lại

Nhiều thứ quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam hôm nay có gốc từ phong trào này. Danh sách dưới đây giúp bạn nhận ra chúng.

  • Kinh tụng bằng tiếng Việt: thói quen tụng các bản kinh dịch nghĩa, bên cạnh bản phiên âm chữ Hán, bắt đầu phổ biến từ nỗ lực dịch thuật thời kỳ này.
  • Hệ thống trường Phật học: mô hình đào tạo tăng ni có cấp học, có chương trình, là nền móng cho các trường và học viện Phật giáo về sau.
  • Báo chí Phật giáo: truyền thống xuất bản tạp chí, sách phổ thông về Phật học bằng tiếng Việt.
  • Sinh hoạt thanh thiếu niên: tổ chức Gia đình Phật tử phát triển từ mô hình Gia đình Phật hoá phổ ở Huế.
  • Chùa Quán Sứ: ngôi chùa ở Hà Nội được xây dựng lại trong những năm 1930 – 1940 làm trụ sở hội, đến nay vẫn là một trung tâm Phật giáo lớn ở thủ đô.
  • Ý thức phân biệt giáo lý với tục lệ: tinh thần học hiểu, phân biệt điều nhà Phật dạy với những gì gá vào chùa, là di sản tư tưởng quan trọng của phong trào.

Đọc về giai đoạn này sao cho đúng

Lịch sử Phật giáo cận đại có nhiều tư liệu, nhưng cũng nhiều cách kể khác nhau tuỳ người viết. Với giai đoạn chấn hưng, nguồn tốt nhất là chính các tạp chí đương thời, hiện được một số thư viện và nhà nghiên cứu số hoá, cùng các công trình sử học có dẫn nguồn. Những bài viết ngắn trên mạng thường gộp, lược đến mức sai năm, sai tên hội. Khi trích dẫn một tạp chí, nên ghi cả tên, năm và số báo để người khác có thể kiểm lại.

Bài này cố ý dừng ở hoạt động học thuật, giáo dục và tổ chức tu học của nửa đầu thế kỷ XX. Các diễn biến về sau của Phật giáo Việt Nam gắn với lịch sử đương đại phức tạp, cần được tìm hiểu qua các công trình nghiên cứu nghiêm túc và nhiều chiều. Nếu bạn muốn hiểu sâu về giáo lý mà các nhà chấn hưng đã giảng dạy, hãy hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt hoặc tìm đến các lớp Phật học cơ bản.

Câu hỏi thường gặp

Phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu từ năm nào?

Không có một năm khởi đầu duy nhất. Những nỗ lực đầu tiên ở Nam Kỳ có từ thập niên 1920; mốc thường được dùng là năm 1931 khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập. Phong trào kéo dài và lan ra cả ba miền trong thập niên 1930.

Hòa thượng Khánh Hòa có vai trò gì?

Hòa thượng Khánh Hòa (1877–1947), quê ở Bến Tre cũ, nay thuộc Vĩnh Long, được các bộ sử Phật giáo cận đại ghi nhận là một trong những người khởi xướng phong trào ở Nam Kỳ, vận động thành lập hội, ra tạp chí và mở lớp đào tạo tăng sĩ.

Gia đình Phật tử ra đời từ đâu?

Tổ chức này có tiền thân là Gia đình Phật hoá phổ do nhóm cư sĩ Lê Đình Thám lập ở Huế năm 1940, sinh hoạt cho thanh thiếu niên theo tinh thần Phật giáo. Về sau mô hình được đổi tên và phát triển rộng ra nhiều nơi.

Tạp chí Phật giáo quốc ngữ đầu tiên là tạp chí nào?

Tạp chí Pháp Âm ở Nam Kỳ cuối thập niên 1920 thường được nhắc tới như một trong những tạp chí đầu tiên. Vì tư liệu báo chí giai đoạn này chưa được thống kê đầy đủ, nên dùng cách nói "một trong những" thay vì khẳng định tuyệt đối.

Phong trào chấn hưng có chịu ảnh hưởng từ nước ngoài không?

Có. Phong trào cải cách Phật giáo ở Trung Hoa do Thái Hư đại sư khởi xướng và tạp chí Hải Triều Âm của phong trào này có ảnh hưởng đến một số tăng sĩ Việt Nam. Tuy vậy, phong trào trong nước mang những đặc điểm riêng, gắn với chữ quốc ngữ và hoàn cảnh xã hội Việt Nam.

Chùa Quán Sứ có liên quan gì đến phong trào?

Chùa Quán Sứ ở Hà Nội được Bắc Kỳ Phật giáo hội chọn làm trụ sở và được xây dựng lại trong những năm 1930 – 1940. Từ đó chùa trở thành một trung tâm sinh hoạt, giảng dạy Phật giáo lớn ở miền Bắc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183