Một ngôi chùa làng thường được giữ bởi nhiều lớp người: vị sư trụ trì (ở Bắc Bộ hay được gọi là sư ông, sư bà, sư bác), các bà vãi là những Phật tử lớn tuổi thường xuyên ở chùa làm việc, ông từ hoặc bà từ trông coi hương khói ở những chùa không có sư, và ban hộ tự gồm các Phật tử, người trong làng cùng lo việc chung. Không có lớp nào trong số này đứng một mình được; chùa làng sống nhờ cả làng.
Bài này giải thích từng vai, họ làm gì, từ đâu mà có, và quan hệ giữa họ thay đổi thế nào từ thời chùa làng do làng quản đến nay. Nếp mỗi vùng mỗi khác: chùa Bắc Bộ, chùa Huế, chùa Nam Bộ, chùa Khmer đều có cách tổ chức riêng, nên những mô tả dưới đây là khung chung, còn chuyện cụ thể ở chùa quê bạn thì hỏi chính người giữ chùa.
Chùa làng: chùa của làng trước khi là chùa của sư
Ở đồng bằng Bắc Bộ, nhiều ngôi chùa làng ra đời từ nhu cầu của chính làng: dân làng góp ruộng, góp tiền, góp công dựng chùa, rồi mời một vị sư về trụ trì. Có giai đoạn, nhất là từ thời Lê sơ khi Nho giáo giữ vai trò chính trong triều đình, nhiều chùa làng không có sư thường trú. Việc hương khói ngày rằm, mùng một do người trong làng trông coi.
Vì vậy quan hệ giữa làng và chùa rất chặt. Làng quyết định nhiều việc: mời sư nào, sửa chùa lúc nào, ngày hội làm gì. Vị sư được mời về sống bằng ruộng chùa và phần cúng dường của dân. Khi vị sư già yếu hay viên tịch, làng cùng nhà chùa bàn việc mời người kế. Nếp ấy vẫn để lại dấu vết trong cách nhiều làng hôm nay nói "chùa làng mình".
Ở Nam Bộ, nhiều chùa ra đời theo bước người khai hoang, có khi do một nhà sư dựng am rồi người quanh vùng góp sức mở rộng. Chùa Khmer thì gắn với phum sóc theo cách riêng: chùa là trung tâm văn hoá, giáo dục của cả cộng đồng, do nhà chùa và ban quản trị gồm các bậc cao niên trong phum sóc cùng lo. Mỗi vùng vì thế có lớp người giữ chùa khác nhau.
Bối cảnh này giúp hiểu vì sao trong một chùa làng, người có tiếng nói không chỉ là nhà sư. Hiểu đúng vai của từng người cũng giúp tránh những va chạm không đáng có khi bạn muốn đóng góp hay nhờ việc ở chùa quê mình.
Vị sư trụ trì chùa làng và cách gọi ở Bắc Bộ
Sư ông, sư bà. Ở Bắc Bộ, Phật tử gọi vị trụ trì cao tuổi là sư ông nếu là tăng, sư bà nếu là ni. Cách gọi này mang sắc thái gần gũi như gọi người lớn trong nhà, đi cùng sự kính trọng.
Sư bác, sư chú, sư cô. Các vị ít tuổi hơn trong chùa được gọi là sư bác, sư chú, sư cô tuỳ tuổi và tuỳ vai vế với vị trụ trì. Sư bác thường là vị đã trưởng thành, có khi là đệ tử lớn của sư ông, thay thầy lo nhiều việc của chùa.
Việc của vị trụ trì chùa làng. Giữ thời kinh sáng chiều, chủ trì các khoá lễ rằm, mùng một, lễ lớn trong năm; dạy dỗ đệ tử nếu có; tiếp dân làng đến hỏi việc; được mời tụng kinh trong tang lễ, lễ cầu an của các gia đình; cùng ban hộ tự lo việc sửa sang chùa. Ở chùa nhỏ, vị trụ trì gần như làm tất cả.
Ai bổ nhiệm. Ngày nay việc bổ nhiệm trụ trì do giáo hội các cấp quyết định theo quy định, có tham khảo ý kiến của chùa và Phật tử địa phương. Với chùa là di tích, còn có sự phối hợp với cơ quan quản lý di tích ở địa phương.
Bà vãi: những người phụ nữ giữ nhịp chùa làng
Chữ "bà vãi" chỉ những phụ nữ lớn tuổi đã quy y, thường mặc áo nâu hoặc áo lam, đến chùa đều đặn hoặc ở hẳn trong chùa để giúp việc. Ở Bắc Bộ, nhiều làng có hội vãi hay hội chùa gồm các bà cùng tuổi, cùng lo việc chùa theo phiên. Trong văn học dân gian, hình ảnh ông sư bà vãi đi liền với nhau như hai mặt quen thuộc của đời sống chùa làng.
Việc của các bà rất cụ thể: nấu cơm chay ngày rằm, mùng một và những ngày lễ lớn; quét dọn, lau bàn thờ, thay nước, cắm hoa; giữ nhịp tụng kinh trong các buổi lễ của Phật tử; trông chùa khi sư đi vắng; đón khách lạ, chỉ chỗ thắp hương. Nhiều bà thuộc kinh, thuộc nghi thức hơn cả người trẻ trong làng, và là người nhớ chuyện chùa qua nhiều đời trụ trì.
Trong những giai đoạn chùa làng không có sư, chính hội vãi giữ cho chùa không tắt hương. Nhiều ngôi chùa còn đứng được đến hôm nay một phần nhờ công những người phụ nữ ấy. Họ không phải người xuất gia, không giữ giới như tăng ni, nhưng là lớp người không thể thiếu.
Có một số câu đùa dân gian về bà vãi, nhưng khi đến chùa, bạn nên nhớ đây là những người lớn tuổi làm việc không công cho cộng đồng. Gọi các bà bằng bà, cụ, hỏi han nhẹ nhàng là cách cư xử phải phép.
Ông từ, bà từ: người trông hương khói
Ông từ, hay thủ từ, là người được giao trông coi hương khói, mở cửa đóng cửa, giữ đồ thờ ở đền, miếu, đình. Ở một số chùa làng không có sư thường trú, làng cũng giao việc này cho một ông từ hoặc bà từ. Người giữ việc thường là người cao tuổi, tính cẩn thận, được làng tin cậy, có khi giữ việc nhiều năm hoặc truyền lại trong gia đình.
Việc của ông từ, bà từ gồm thắp hương ngày rằm, mùng một, giữ chìa khoá, trông đồ thờ, quét dọn, báo cho làng khi có hư hỏng, và mở cửa đón người đến lễ. Họ không làm các khoá lễ của nhà sư. Khi có lễ lớn, làng hoặc ban hộ tự mời một vị sư từ chùa khác về chủ trì.
Người ngoài dễ nhầm ông từ với nhà sư vì cùng ở chùa, có khi cùng mặc áo nâu. Cách phân biệt đơn giản: nhà sư cạo tóc, mặc áo của người xuất gia theo quy định; ông từ, bà từ là người tại gia, để tóc, có gia đình riêng.
Ban hộ tự, đạo tràng và các tổ chức Phật tử quanh chùa
Ngày nay, bên cạnh vị trụ trì, nhiều chùa có các nhóm Phật tử cùng lo việc chung. Tên gọi và cách tổ chức khác nhau theo vùng và theo chùa.
| Tên gọi | Gồm ai | Thường lo việc gì |
|---|---|---|
| Ban hộ tự | Phật tử uy tín, người trong làng, trong khu phố | Hỗ trợ trụ trì việc xây sửa, tài chính, tổ chức lễ lớn, giữ sổ sách công khai |
| Hội chùa, hội vãi | Các bà, các cụ lớn tuổi đã quy y | Bếp, dọn dẹp, giữ nhịp tụng kinh, trông chùa |
| Đạo tràng | Phật tử sinh hoạt tu học định kỳ ở chùa | Tụng kinh, nghe giảng, giúp chùa ngày lễ |
| Gia đình Phật tử | Thanh thiếu niên và các huynh trưởng | Sinh hoạt định kỳ, giúp chùa trong các dịp lễ |
| Ban quản trị chùa Khmer | Achar và các bậc cao niên trong phum sóc | Cùng nhà chùa lo lễ hội, tài sản, quan hệ với cộng đồng |
| Ban quản lý di tích | Do chính quyền địa phương lập ở chùa là di tích | Phối hợp bảo vệ di tích, trùng tu theo quy định |
Khi muốn đóng góp cho chùa quê, bạn nên hỏi vị trụ trì và ban hộ tự xem chùa đang cần gì, đóng góp qua kênh nào có ghi sổ. Đóng góp có ghi chép rõ ràng giúp cả chùa lẫn người góp yên tâm.
Về quê muốn giúp chùa làng: hỏi ai, làm gì
Nhiều người đi làm xa, mỗi lần về quê muốn góp sức cho chùa làng nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Trình tự dưới đây theo nếp chung, giúp việc góp sức không làm khó người giữ chùa.
- Đến chùa vào ngày thường, không phải ngày lễ. Ngày lễ ai cũng bận; ngày thường vị trụ trì và các bà có thời gian nói chuyện.
- Hỏi vị trụ trì trước, rồi đến ban hộ tự. Chùa đang cần gì: sửa mái, thay hệ thống điện, mua bàn ghế cho lớp học, hay chỉ cần người giúp dọn dẹp dịp lễ. Đừng tự mua đồ mang đến khi chưa hỏi.
- Đóng góp qua kênh có ghi sổ. Tiền, vật đều nên được ghi vào sổ công đức hoặc sổ của ban hộ tự, để minh bạch cho cả chùa và người góp.
- Tôn trọng nếp sẵn có. Muốn đề xuất thay đổi, như sửa lại gian thờ hay xây thêm công trình, hãy bàn với trụ trì, ban hộ tự, và với chùa là di tích thì cả cơ quan quản lý di tích. Chùa cổ cần giữ nguyên trạng theo quy định.
- Góp công, không chỉ góp của. Một buổi quét sân, nấu bếp cùng các bà, chở các cụ đi lễ, giúp chùa ghi chép sổ sách: những việc nhỏ ấy nhiều khi quý hơn tiền.
Người giữ chùa làng thường đã quá quen với cảnh con cháu về làng góp tiền rồi đi. Ai ở lại một buổi làm việc cùng họ sẽ hiểu chùa làng hơn mọi bài viết.
Vai trò đang thay đổi
Từ cuối thế kỷ XX, nhiều chùa làng Bắc Bộ có lại sư trụ trì thường trú sau thời gian dài vắng sư. Các vị trẻ được đào tạo ở trường Phật học về làng, mang theo nếp sinh hoạt mới: lớp học Phật pháp cho Phật tử, sinh hoạt thiếu nhi, khoá tu ngắn ngày. Vai trò của hội vãi và ông từ vì thế có nơi thu hẹp, có nơi chuyển sang hỗ trợ.
Đồng thời, lớp các bà vãi đang già đi, lớp kế tiếp ít hơn vì người trẻ đi làm xa. Nhiều chùa phải nhờ đến đạo tràng, Phật tử từ thành phố về giúp các dịp lễ. Đây là thay đổi lặng lẽ mà nhiều vị trụ trì chùa quê nhắc đến khi nói về đời sống của chùa mình.
Dù thay đổi thế nào, chùa làng vẫn là nơi nhiều lớp người cùng góp tay. Hiểu ai làm gì trong chùa giúp bạn, khi về quê, biết hỏi đúng người, nhờ đúng việc, và trân trọng những người đã giữ ngôi chùa đứng được qua nhiều đời.
Câu hỏi thường gặp
Bà vãi có phải là ni cô không?
Không. Bà vãi là Phật tử tại gia đã quy y, đến chùa giúp việc thường xuyên, không cạo tóc, không thọ giới xuất gia. Ni cô là người nữ xuất gia, cạo tóc, giữ giới của người tu và sống theo nếp của ni giới.
Ban hộ tự có quyền quyết định việc của chùa không?
Ban hộ tự hỗ trợ trụ trì, nhất là việc tài chính, xây sửa, lễ lớn. Việc tu học, nghi lễ và nội bộ nhà chùa do vị trụ trì và giáo hội quyết. Cách phân chia cụ thể tuỳ quy chế của từng chùa và địa phương.
Muốn tham gia hội chùa ở quê thì làm thế nào?
Bạn có thể đến hỏi vị trụ trì hoặc các bà trong hội chùa. Thường không có thủ tục phức tạp: đến sinh hoạt đều đặn, nhận phần việc phù hợp sức mình. Nhiều chùa khuyến khích người trẻ tham gia để nối tiếp lớp người lớn tuổi.
Ông từ có được cúng lễ thay sư không?
Ông từ trông hương khói, thắp hương ngày rằm, mùng một và giữ đồ thờ. Các khoá lễ theo nghi thức Phật giáo do nhà sư chủ trì. Khi chùa không có sư, làng hoặc ban hộ tự thường mời một vị sư từ chùa khác về làm lễ lớn.
Chùa làng không có sư có còn là chùa không?
Vẫn là chùa, vẫn thờ Phật và có người trông nom. Trong lịch sử Bắc Bộ, nhiều chùa làng từng trải qua thời gian dài không có sư thường trú. Ngày nay nhiều nơi đã có sư trụ trì trở lại theo bổ nhiệm của giáo hội.
Người giữ chùa có được trả công không?
Phần lớn bà vãi và thành viên ban hộ tự làm việc tự nguyện. Ông từ ở một số nơi được làng hoặc ban quản lý hỗ trợ một khoản nhỏ, tuỳ thoả thuận địa phương. Không có quy định chung cho mọi chùa.