Một ngày của tăng ni ở chùa thường bắt đầu từ khoảng ba đến bốn giờ sáng với tiếng chuông thức chúng, xen kẽ giữa các thời kinh là giờ học, giờ làm việc chung gọi là chấp tác, bữa ăn theo nghi thức, giờ tiếp Phật tử, và khép lại khoảng chín, mười giờ tối với giờ chỉ tịnh. Thời kinh chỉ chiếm vài giờ; phần lớn thời gian còn lại là những việc rất đời thường như quét sân, nấu ăn, chăm vườn, sửa mái, học bài, trả lời người đến hỏi chuyện.
Bài này kể lại nhịp một ngày như người ở trong chùa nhìn thấy, theo nếp phổ biến ở chùa Bắc tông có tăng ni thường trú, rồi so với chùa Nam tông và tịnh xá Khất sĩ. Giờ giấc chỉ là khoảng chừng: chùa làng một hai vị khác chùa có học viện hàng trăm vị, mùa an cư khác ngày thường. Muốn biết nếp riêng của một nơi, cách chắc nhất là hỏi chính chư tăng, ni ở đó.
Vì sao ngày ở chùa bắt đầu sớm như vậy
Giờ thức của chùa không phải để làm khó người tu. Trong nếp nhà thiền, khoảng cuối đêm là lúc yên nhất trong ngày: chưa có khách, chưa có tiếng xe, đầu óc sau giấc ngủ còn trong. Các bộ thanh quy, tức những bộ quy định sinh hoạt của tự viện, đặt thời kinh đầu tiên vào lúc này để người tu dùng phần tỉnh táo nhất của ngày cho việc tu tập, trước khi bị cuốn vào việc chung.
Ở nhiều chùa Bắc tông, một vị được phân công thức dậy trước để thỉnh chuông hoặc gõ bản báo thức. Tiếng chuông này gọi là chuông thức chúng, tức đánh thức đại chúng. Sau đó các vị có ít phút làm vệ sinh, xếp chăn gối, mặc áo tràng hoặc y theo quy định rồi lên chánh điện. Chùa thiền thường có thêm một thời ngồi thiền trước hoặc sau thời kinh khuya.
Giờ giấc sớm cũng gắn với việc ăn. Theo luật xuất gia, phần lớn các truyền thống đặt bữa chính vào buổi sáng và trưa; nhiều chùa Nam tông và tịnh xá không ăn sau giờ ngọ. Ăn sớm, nghỉ sớm, dậy sớm thành một vòng khép kín. Người mới vào chùa thường thấy mệt nhất trong mấy tuần đầu vì phải đổi nhịp sinh học, sau đó cơ thể quen dần.
Cũng cần nói rõ: không phải chùa nào cũng dậy ba giờ. Chùa nhỏ ở thành phố có vị trụ trì lớn tuổi, chùa có nhiều chú tiểu đang đi học phổ thông, chùa làng chỉ một vị trông nom, mỗi nơi điều chỉnh cho hợp người, hợp việc. Đọc được khoảng giờ để hình dung, đừng coi là chuẩn để đánh giá chùa nào nghiêm hơn chùa nào.
Nhịp một ngày theo nếp phổ biến ở chùa Bắc tông
Bảng dưới gom các mốc thường gặp trong một ngày thường ở chùa có tăng, ni thường trú. Giờ ghi là khoảng chừng; phần thời kinh có bài riêng ở mục nghi lễ nên ở đây chỉ nêu tên.
| Khoảng giờ | Việc chính | Ghi chú |
|---|---|---|
| 3 giờ 30 – 4 giờ | Chuông hoặc bản thức chúng, làm vệ sinh | Một vị trực dậy trước để báo thức |
| 4 giờ – 5 giờ 30 | Thời kinh khuya, có chùa ngồi thiền thêm | Phật tử ngủ lại chùa có thể dự |
| 6 giờ – 7 giờ | Điểm tâm, thường là cháo hoặc cơm nhẹ | Nhiều chùa ăn trong im lặng |
| 7 giờ – 10 giờ 30 | Chấp tác hoặc học, tiếp khách | Chú tiểu đi học phổ thông vào giờ này |
| 11 giờ – 12 giờ | Cúng ngọ, quá đường (bữa trưa theo nghi thức) | Bữa chính của ngày |
| 12 giờ – 14 giờ | Nghỉ trưa, chỉ tịnh buổi trưa | Chùa giữ yên, hạn chế tiếp khách |
| 14 giờ – 16 giờ 30 | Học kinh luật, làm vườn, dọn dẹp, việc chùa | Lịch học do vị trụ trì hoặc thầy dạy xếp |
| 17 giờ – 18 giờ 30 | Thời kinh chiều, có ngày thêm sám hối | Phật tử quanh vùng đến đông nhất |
| 19 giờ – 21 giờ | Học, ôn bài, tự tu, có chùa tụng thêm | Tuỳ chùa; có nơi dùng bữa tối nhẹ gọi là dược thực |
| 21 giờ 30 – 22 giờ | Chuông hoặc bản chỉ tịnh, đi nghỉ | Sau giờ này chùa giữ im lặng |
Chữ "dược thực" nghĩa là ăn như uống thuốc, ý nói bữa tối ở những chùa có dùng chỉ để giữ sức chứ không phải bữa ăn chính. Nhiều chùa Bắc tông có bữa này, nhiều chùa khác không; đó là nếp riêng từng nơi, không phải chỗ để so hơn kém.
Chấp tác: phần việc tay chân của người tu
Chấp tác là gì. Chữ "chấp tác" chỉ giờ lao động chung của đại chúng: quét sân, lau chánh điện, nhổ cỏ, tưới rau, bổ củi, nấu bếp, sửa chỗ hư hỏng. Trong nhà thiền có câu nổi tiếng gắn với thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đời Đường: một ngày không làm thì một ngày không ăn. Câu này được các chùa Việt nhắc như một nếp sống, ý rằng người tu tự lo được phần việc của mình.
Ai làm việc gì. Việc được chia theo chức trách và theo phiên. Vị lo bếp, vị lo hương đèn, vị lo tiếp khách giữ việc của mình lâu dài; những việc chung như quét sân, rửa bát thì xoay vòng theo tuần. Người mới vào chùa thường bắt đầu từ việc bếp và việc quét dọn, vừa làm vừa học oai nghi, tức cách đi đứng, nói năng của người tu.
Làm vườn, trồng rau. Nhiều chùa ở nông thôn và vùng ven có vườn rau, vườn cây ăn trái, ao sen. Ngày trước chùa làng Bắc Bộ còn có ruộng chùa do làng cúng. Rau tự trồng vừa đỡ chi phí vừa là một phần của việc tu: làm chậm, làm kỹ, làm trong im lặng.
Việc lớn theo mùa. Ngoài việc hằng ngày còn có việc theo mùa: chuẩn bị lễ Phật đản, Vu Lan, dọn dẹp cuối năm, đón Phật tử về dự khoá lễ. Những tuần ấy giờ chấp tác dài hơn, giờ học có khi phải dời. Người ngoài nhìn thấy chùa đông vui ngày lễ, ít ai thấy mấy tuần chuẩn bị trước đó.
Bữa ăn ở chùa: quá đường và những nếp đi kèm
Bữa trưa ở chùa Bắc tông thường được gọi là quá đường hoặc thọ trai. Trước bữa ăn có phần cúng ngọ: dâng cơm cúng Phật tại chánh điện, sau đó đại chúng vào trai đường, ngồi theo thứ tự tuổi hạ, vị lớn ngồi trên. Có chùa đọc các bài kệ ngắn trước khi ăn, có phần dành một ít thức ăn cho chúng sinh, rồi mới bắt đầu ăn.
Trong lúc ăn, nhiều chùa giữ im lặng. Người tu ngồi thẳng, bưng bát lên gần, ăn chậm, không gây tiếng động lớn với bát đũa. Ăn xong ai rửa bát của mình hoặc theo phiên trực. Những nếp nhỏ này nghe khắt khe nhưng có lý do thực tế: một trai đường vài chục người ăn trong im lặng thì xong nhanh, sạch và ít đổ vỡ.
Thức ăn ở chùa Bắc tông Việt Nam là đồ chay. Đây là nếp đã thành truyền thống của Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam và các nước gần, gắn với giới không sát sinh theo cách hiểu của truyền thống này. Chùa Nam tông thì khác: tăng sĩ ăn những gì Phật tử dâng cúng khi đi khất thực hoặc mang đến chùa, có thể có món mặn, nhưng không ăn sau giờ ngọ. Tịnh xá Khất sĩ giữ nếp ăn chay và ăn ngày một bữa trước ngọ ở nhiều nơi. Mỗi truyền thống có lý giải riêng theo luật tạng của mình; phần giáo lý xin hỏi chư tăng, ni.
Phật tử đến chùa đúng giờ ngọ thường được mời dùng cơm. Nếu bạn là khách, nên ăn sau đại chúng hoặc theo chỗ được chỉ, không nói to, không để thừa. Cơm chùa là phần cúng dường của nhiều người góp lại, nên nếp tiết kiệm được giữ rất kỹ.
Giờ học: chú tiểu đi học, tăng ni học kinh luật
Việc học chiếm phần lớn quỹ thời gian của tăng ni trẻ. Chú tiểu, cô tiểu trong độ tuổi đi học phải đi học phổ thông như mọi trẻ em khác; chùa có trách nhiệm lo việc này theo quy định của pháp luật và của giáo hội. Vì vậy ở nhiều chùa, buổi sáng các chú đi học ở trường, chiều về mới học kinh, học oai nghi, làm việc chùa.
Tăng ni đã lớn thì học theo các cấp đào tạo Phật học: sơ cấp ngay tại chùa hoặc lớp do ban giáo dục tăng ni địa phương mở, trung cấp, cao đẳng, rồi học viện. Những vị đang theo học ở trường có lịch ngày khác hẳn chùa làng: buổi sáng lên lớp, chiều tự học, tối ôn bài, công phu vẫn giữ nhưng có thể rút gọn theo nội quy ký túc xá.
Ngoài lớp chính thức, trong chùa có truyền thống học trực tiếp với thầy. Vị trụ trì hoặc vị thầy lớn giảng một bộ luật, một bộ kinh cho các đệ tử vào buổi tối hay chiều. Người mới thường học thuộc các thời kinh nhật tụng, học cách đánh chuông mõ, học Hán Việt để đọc kinh cũ. Việc học này kéo dài suốt đời người tu, không có lúc gọi là xong.
Bạn nào có người thân ở chùa sẽ để ý rằng tăng ni trẻ rất bận. Nếu muốn đến thăm, nên hỏi trước giờ nào thuận, tránh giờ học và giờ ngọ, giờ nghỉ trưa.
Chùa Bắc tông, chùa Nam tông và tịnh xá: nhịp ngày khác ở đâu
Ba truyền thống cùng là người xuất gia nhưng nhịp ngày khác nhau ở vài điểm dễ thấy. Bảng dưới chỉ nêu khác biệt phổ biến, không nói nơi nào hơn nơi nào.
| Điểm | Chùa Bắc tông | Chùa Nam tông | Tịnh xá Khất sĩ |
|---|---|---|---|
| Buổi sáng sớm | Thời kinh khuya, có chùa thêm thiền | Tụng kinh Pali, ngồi thiền | Tụng kinh, thiền, chuẩn bị đi khất thực ở nơi còn giữ |
| Thức ăn | Bữa sáng, bữa trưa chay; có nơi thêm bữa tối nhẹ | Nhận thức ăn Phật tử dâng; không ăn sau giờ ngọ | Chay; nhiều nơi ăn một bữa trước ngọ |
| Khất thực | Hiếm gặp | Có ở nhiều chùa, nhất là vùng có cộng đồng Phật tử Khmer | Là hạnh đặc trưng, tuỳ nơi giữ nhiều hay ít |
| Buổi chiều | Thời kinh chiều, có ngày sám hối | Học kinh, tụng kinh chiều, ngồi thiền | Học, tụng kinh, thiền |
| Người gặp nhiều trong ngày | Phật tử đến lễ, đến dự khoá lễ | Phật tử dâng cơm, mời tăng sĩ về nhà tụng | Phật tử đến tịnh xá, dâng vật thực |
Những khác biệt này đến từ bộ luật mỗi truyền thống theo và từ hoàn cảnh hình thành. Chùa Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, chẳng hạn, gắn chặt với đời sống phum sóc nên ngày của tăng sĩ có nhiều việc với cộng đồng hơn. Phần chi tiết về từng hệ phái có ở các bài trong mục hệ phái của trang.
Một ngày ở chùa làng chỉ có một hai vị
Hình ảnh chùa có hàng chục tăng ni, chuông trống đều đặn chỉ đúng với chùa lớn. Rất nhiều chùa làng ở Bắc Bộ, Trung Bộ chỉ có một vị trụ trì và một hai đệ tử nhỏ, có nơi một vị ni lớn tuổi sống cùng vài bà Phật tử giúp việc. Ngày ở những chùa này giống ngày của một gia đình nhỏ hơn là một tự viện.
Vị trụ trì chùa làng vừa giữ thời kinh sáng chiều, vừa là người tiếp làng xóm đến hỏi việc, vừa trông coi sửa sang, vừa lo cho các chú đi học. Ngày rằm, mùng một Phật tử về đông, có khi phải nhờ các bà trong hội chùa làm bếp. Ngày có đám tang trong làng, nhà chùa được mời đến tụng kinh. Tất cả xếp vào cùng một ngày, nên lịch ở chùa nhỏ co giãn hơn nhiều.
Khi đến một chùa như vậy, bạn sẽ thấy vị sư tự tay làm rất nhiều việc mà ở chùa lớn có người chia nhau. Đó cũng là lý do khi muốn nhờ việc gì, như nhờ tụng kinh cho người mất, nên hỏi trước, sắp xếp theo lịch của chùa và không kỳ vọng nhà chùa lúc nào cũng rảnh.
Về đêm, giờ chỉ tịnh ở chùa nhỏ thường sớm. Sau thời kinh chiều và bữa tối nhẹ nếu có, vị sư đọc sách, làm sổ sách, rồi nghỉ. Ngày hôm sau lặp lại nhịp cũ. Sự đều đặn ấy là điều nhiều người tu nhắc đến khi được hỏi điều gì giữ họ ở lại chùa lâu năm.
Câu hỏi thường gặp
Nhà sư có được ngủ trưa không?
Có. Nhiều chùa có giờ chỉ tịnh buổi trưa sau bữa quá đường, kéo dài chừng một đến hai giờ. Trong giờ này tăng ni nghỉ ngơi, đọc sách hoặc tự tu, chùa hạn chế tiếp khách. Giờ cụ thể tuỳ nội quy từng chùa.
Tăng ni có ngày nghỉ trong tuần không?
Phần lớn chùa không có ngày nghỉ cố định như người đi làm. Thời kinh và sinh hoạt diễn ra mỗi ngày; việc nghỉ được sắp xếp theo phiên, theo sức khoẻ, hoặc khi về thăm gia đình có xin phép thầy. Các trường Phật học thì có lịch nghỉ theo học kỳ.
Ở chùa có được dùng điện thoại không?
Tuỳ chùa và tuỳ vị trí của người tu. Nhiều chùa cho dùng để liên lạc, học tập, làm việc chùa nhưng đặt quy định về giờ giấc, nhất là với chú tiểu và người mới vào. Một số thiền viện hạn chế chặt hơn trong mùa an cư hoặc khoá thiền.
Phật tử muốn ở lại chùa vài ngày thì sinh hoạt theo lịch nào?
Thường theo lịch chung của chùa: dự thời kinh, ăn theo giờ, tham gia chấp tác nhẹ, giữ giờ chỉ tịnh. Bạn nên hỏi vị tri khách hoặc vị trụ trì trước về nội quy, chỗ ở và những việc được tham gia, rồi giữ đúng lịch của đại chúng.
Chùa có thời gian biểu viết sẵn không?
Nhiều chùa lớn và trường Phật học có thời khoá biểu dán ở nơi sinh hoạt chung, ghi giờ thức chúng, giờ kinh, giờ học, giờ chỉ tịnh. Chùa nhỏ thì thường giữ theo nếp quen. Nếu bạn cần biết giờ để đến lễ hoặc thăm người thân, hỏi trực tiếp nhà chùa là chắc nhất.
Tăng ni lớn tuổi, ốm yếu có phải theo đủ lịch không?
Không bắt buộc như người khoẻ. Nếp chùa xưa nay có phần chăm sóc người bệnh và người già; vị nào yếu thì được miễn chấp tác, có khi miễn cả thời kinh khuya, có người trong chùa chăm nom. Người có bệnh vẫn cần được khám chữa ở cơ sở y tế như mọi người.