DaoPhap.comĐạo Pháp
Thiền phái và cao tăng trong sử Việt

Dòng Lâm Tế và Tào Động ở Đàng Ngoài: Chuyết Công, Thủy Nguyệt và Chân Nguyên

Thế kỷ XVII, Chuyết Công đem dòng Lâm Tế vào Thăng Long, Thủy Nguyệt đem dòng Tào Động về, Chân Nguyên khôi phục Trúc Lâm. Bài kể các dòng thiền miền Bắc đó.

Long wooden corridor of an old northern Vietnamese pagoda with dark ironwood pillars and stone floor, soft rain outside, a robed figure walking away at the far end

Ở Đàng Ngoài, tức miền Bắc dưới thời vua Lê – chúa Trịnh, thế kỷ XVII là lúc các dòng thiền mới vào và các dòng cũ được khôi phục: thiền sư Chuyết Công người Trung Hoa đem dòng Lâm Tế đến Thăng Long vào khoảng thập niên 1630, thiền sư Thủy Nguyệt đem dòng Tào Động về cuối thế kỷ, còn thiền sư Chân Nguyên tìm lại và khắc in di sản Trúc Lâm. Phần lớn các chùa Bắc tông ở miền Bắc ngày nay, khi kể phả hệ trụ trì, đều lần về một trong các dòng hình thành từ giai đoạn này.

Bài đi qua từng dòng theo sử liệu phổ thông, kèm một bảng tóm tắt và vài gợi ý để bạn tự đọc phả hệ của ngôi chùa quen thuộc. Chuyện kể dân gian về chùa Bút Tháp và các nhân vật liên quan không được nhắc lại ở đây; bài giữ góc lịch sử truyền thừa.

Bối cảnh: Phật giáo miền Bắc sau thời Lê sơ

Thế kỷ XV, nhà Lê sơ lấy Nho giáo làm nền tảng trị nước, hạn chế xây chùa mới và quản lý chặt việc xuất gia. Phật giáo không mất đi nhưng lui về các làng xã, không còn những dòng thiền có tổ chức như Trúc Lâm đời Trần. Sang thế kỷ XVI, chiến tranh Lê – Mạc kéo dài; nhà Mạc, rồi các chúa Trịnh, lại có phần cởi mở hơn với nhà chùa, nhiều chùa được trùng tu nhờ công đức của hoàng tộc và các bà phi.

Đầu thế kỷ XVII, khi cục diện Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài đã ổn định, nhu cầu tu học có hệ thống trở lại. Cùng lúc, ở Trung Hoa, nhà Minh suy rồi sụp đổ năm 1644, nhiều nhà sư rời quê theo thuyền buôn xuống phương Nam. Hai dòng chảy ấy gặp nhau: các thiền sư từ Trung Hoa được chúa Trịnh và hoàng tộc Lê đón tiếp, mở ra một giai đoạn mới cho thiền học miền Bắc.

Vì thế, khi đọc về giai đoạn này, bạn sẽ thấy tên các bà chúa, bà phi, các vị quan xuất hiện dày đặc trong bia chùa với vai trò người công đức. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, phần lớn còn ở chính các ngôi chùa.

Chuyết Công và dòng Lâm Tế đầu tiên ở Thăng Long

Chuyết Công là ai. Thiền sư Chuyết Công, hiệu Chuyết Chuyết (1590–1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, thuộc dòng Lâm Tế, một trong hai dòng Thiền tông lớn nhất của Trung Hoa thời Minh. Theo các tài liệu phổ biến, ông theo thuyền xuống phương Nam, có thời gian ở phía nam, rồi khoảng năm 1633 đến Thăng Long.

Được triều đình kính trọng. Ở Đàng Ngoài, ông được vua Lê, chúa Trịnh và nhiều người trong hoàng tộc tôn kính, mời trụ trì một số chùa ở kinh thành và vùng lân cận, trong đó có chùa Ninh Phúc, tức chùa Bút Tháp ở Thuận Thành, Bắc Ninh.

Học trò kế tục. Ông mất năm 1644. Đệ tử Minh Hành, cũng là người Trung Hoa, kế tục và cùng những người công đức đưa chùa Bút Tháp thành một quần thể lớn. Tháp thờ Chuyết Công ở Bút Tháp hiện vẫn còn.

Dòng truyền về sau. Từ Chuyết Công, dòng Lâm Tế truyền cho nhiều đệ tử người Việt, lan ra các chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhiều sách gọi đây là dòng Lâm Tế Chuyết Công để phân biệt với các nhánh Lâm Tế vào Đàng Trong.

Thủy Nguyệt và dòng Tào Động

Tào Động là dòng Thiền tông lớn thứ hai của Trung Hoa thời Minh – Thanh bên cạnh Lâm Tế. Ở Đàng Ngoài, dòng này gắn với tên thiền sư Thủy Nguyệt, một nhà sư người Việt sống ở nửa sau thế kỷ XVII. Theo các tài liệu, ông sang Trung Hoa tầm sư học đạo, đắc pháp với một thiền sư Tào Động, rồi trở về nước truyền dạy.

Học trò của Thủy Nguyệt, nổi bật là thiền sư Tông Diễn, đã phát triển dòng này ở kinh thành. Chùa Hoè Nhai, tên chữ là Hồng Phúc, ở Hà Nội ngày nay, thường được nhắc tới như một trung tâm của dòng Tào Động miền Bắc. Về sau, dòng này có thêm những nhà sư Trung Hoa sang truyền, tạo nên các nhánh khác.

Chi tiết Thủy Nguyệt là người Việt tự sang Trung Hoa học rồi về cũng đáng chú ý: nó cho thấy dòng chảy thiền học thời này không chỉ một chiều từ Bắc xuống, mà còn có những nhà sư trong nước chủ động đi tìm thầy.

So với Lâm Tế, Tào Động ở miền Bắc có quy mô nhỏ hơn nhưng bền bỉ, đến nay vẫn còn các chùa ghi phả hệ theo dòng này. Về khác biệt trong lối tu giữa hai dòng, các sách thiền học Trung Hoa thường tóm bằng những hình ảnh rất ngắn gọn; nếu bạn quan tâm phần ấy, hãy hỏi chư tăng, ni đang theo dòng tương ứng, vì mỗi nơi có cách hiểu và thực hành riêng.

Chân Nguyên: người tìm lại di sản Trúc Lâm

Cùng thời với các dòng mới vào, một nhà sư người Việt đã làm một việc ít người để ý mà có tầm quan trọng lâu dài: thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726). Ông tu ở vùng Yên Tử, gắn với các chùa Long Động và Quỳnh Lâm, được các nhà nghiên cứu xếp vào dòng nối lại tinh thần Trúc Lâm, có khi gọi là dòng Long Động.

Chân Nguyên soạn bằng chữ Nôm những tác phẩm kể lại hành trạng các vị tổ Phật giáo, trong đó có Thiền tông bản hạnh, và cùng đệ tử cho khắc in lại nhiều văn bản Trúc Lâm đời Trần vốn đã thất lạc hoặc chỉ còn bản chép tay. Nhờ đợt khắc in này mà nhiều tác phẩm của Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ còn đến được với chúng ta. Đổi lại, giới Hán Nôm cũng lưu ý rằng văn bản có thể đã được sửa chữ trong quá trình ấy.

Cuối đời, Chân Nguyên được triều Lê ban danh hiệu, cho thấy uy tín của ông trong giới Phật giáo đương thời. Một học trò của dòng này là thiền sư Như Trừng Lân Giác, xuất thân từ phủ chúa Trịnh, về sau lập ra dòng Liên Tông với trung tâm là chùa Liên Phái ở Hà Nội.

Các dòng thiền Đàng Ngoài thế kỷ XVII – XVIII

Bảng dưới đặt các dòng cạnh nhau. Năm tháng là năm theo sách phổ thông; địa danh ghi theo đơn vị hành chính hiện nay.

DòngNgười khởi đầuGốcChùa hay được nhắc
Lâm Tế (nhánh Chuyết Công)Chuyết Công, Minh HànhNhà sư Trung Hoa sangBút Tháp (Bắc Ninh), một số chùa ở Hà Nội
Tào ĐộngThủy Nguyệt, Tông DiễnNhà sư Việt sang Trung Hoa học rồi vềHoè Nhai – Hồng Phúc (Hà Nội)
Trúc Lâm phục hưng (Long Động)Chân Nguyên Tuệ ĐăngNối lại di sản Trúc Lâm đời TrầnLong Động, Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)
Liên TôngNhư Trừng Lân GiácPhát triển từ dòng Chân NguyênLiên Phái (Hà Nội)

Bảng giản lược nhiều chi tiết. Trên thực tế, các dòng qua lại với nhau: có thầy học hai nơi, có chùa đổi dòng qua các đời trụ trì. Các nhà nghiên cứu cũng xếp Chân Nguyên và Liên Tông theo những cách khác nhau, có người coi là một nhánh của Lâm Tế mang tinh thần Trúc Lâm.

Dấu tích các dòng thiền thế kỷ XVII còn thấy hôm nay

Khác với thời Lý – Trần, giai đoạn Lê trung hưng để lại khá nhiều hiện vật còn nguyên tại chỗ. Người đi tìm hiểu có thể gặp những loại dấu tích sau:

  • Tháp mộ các vị tổ. Tháp đá, tháp gạch nhiều tầng trong vườn tháp, nhiều tháp có niên đại rõ, ghi pháp hiệu vị sư. Đây là tư liệu tốt nhất để lần phả hệ.
  • Tượng tổ. Một số chùa còn tượng các vị tổ được tạc theo lối chân dung, khác hẳn tượng Phật, Bồ Tát. Khi xem, bạn nên giữ khoảng cách và không chụp đèn flash.
  • Bia công đức. Bia ghi tên người cúng tiền, cúng ruộng, kèm năm dựng, cho biết ai đứng sau việc trùng tu và triều đình quan tâm đến đâu.
  • Mộc bản kinh sách. Những ván khắc gỗ in kinh, sách thiền, sách Nôm từ đợt khắc in thế kỷ XVII – XVIII; một số nơi còn lưu giữ, nhiều nơi đã chuyển về cơ quan bảo tồn.
  • Kiến trúc trùng tu. Nhiều chùa được dựng lại quy mô lớn trong giai đoạn này, nên bố cục hiện thấy thường có gốc từ thế kỷ XVII hơn là thời Lý – Trần.

Nhờ lượng hiện vật này, giới nghiên cứu hiểu giai đoạn Lê trung hưng khá rõ, và thấy được Phật giáo khi ấy không chỉ phục hồi mà còn có một đời sống văn hoá phong phú: điêu khắc, văn chương Nôm, in ấn, kiến trúc. Muốn xem kỹ hiện vật ở đâu, hãy hỏi ban quản lý di tích hoặc nhà chùa trước, vì nhiều thứ không bày ra thường ngày.

Tự đọc phả hệ của một ngôi chùa miền Bắc

Nhiều chùa ở miền Bắc còn giữ bia, tháp, câu đối, sổ ghi chép về các đời trụ trì. Nếu bạn muốn biết ngôi chùa quen thuộc thuộc dòng nào, có thể đi theo mấy bước sau, luôn với sự đồng ý của nhà chùa:

  1. Hỏi chư tăng, ni hoặc người giữ chùa về dòng truyền thừa; nhiều nơi biết rõ và sẵn lòng kể.
  2. Xem khu vườn tháp: tháp các đời sư thường khắc pháp hiệu, đôi khi có ghi đời thứ mấy của dòng nào.
  3. Để ý chữ lót trong pháp hiệu các vị: nhiều dòng đặt tên theo bài kệ truyền pháp, chữ lót cho biết vị ấy thuộc đời nào.
  4. Tìm trong nhà Tổ: ban thờ tổ thường có bài vị hoặc tượng các vị tổ khai sơn của dòng.
  5. Đối chiếu với sách: các công trình lịch sử Phật giáo Việt Nam đã xuất bản có danh sách các đời của từng dòng.

Đừng tự ý chạm, cạo rêu, in dập lên bia tháp; nhiều hiện vật là di tích được bảo vệ. Chụp ảnh từ xa và ghi chép là đủ cho mục đích tìm hiểu.

Câu hỏi thường gặp

Thiền phái Lâm Tế vào Việt Nam khi nào?

Ở Đàng Ngoài, dòng Lâm Tế được ghi nhận rõ nét từ khi thiền sư Chuyết Công đến Thăng Long khoảng năm 1633. Ở Đàng Trong, dòng này vào qua các thiền sư như Nguyên Thiều trong nửa sau thế kỷ XVII.

Lâm Tế và Tào Động khác nhau thế nào?

Đây là hai dòng Thiền tông có nguồn gốc từ Trung Hoa, khác nhau ở người khai tổ, phả hệ và một số đặc điểm về phương pháp mà sách thiền học hay tóm lược ngắn gọn. Về thực hành cụ thể, nên hỏi chư tăng, ni theo dòng đó vì mỗi nơi có cách hiểu riêng.

Chùa Bút Tháp thuộc dòng thiền nào?

Chùa Bút Tháp, tên chữ là Ninh Phúc, ở Thuận Thành, Bắc Ninh, gắn với thiền sư Chuyết Công và đệ tử Minh Hành của dòng Lâm Tế thế kỷ XVII. Tháp thờ Chuyết Công hiện vẫn còn trong khuôn viên chùa.

Chân Nguyên có phải người lập lại Thiền phái Trúc Lâm không?

Chân Nguyên được coi là người có công lớn khôi phục di sản Trúc Lâm qua việc soạn sách và khắc in lại các văn bản đời Trần. Tuy nhiên đây là sự nối lại về tinh thần và văn bản, không phải sự tiếp nối liên tục của tổ chức Trúc Lâm thời Trần.

Liên Tông là dòng thiền gì?

Liên Tông là dòng thiền do thiền sư Như Trừng Lân Giác khai lập đầu thế kỷ XVIII, trung tâm ở chùa Liên Phái, Hà Nội. Dòng này phát triển từ mạch Chân Nguyên và có ảnh hưởng ở một số chùa miền Bắc.

Có phải chùa miền Bắc nào cũng thuộc một dòng thiền cụ thể?

Nhiều chùa có ghi phả hệ rõ, nhưng cũng có chùa làng qua nhiều đời không còn ghi chép đầy đủ, hoặc thay đổi dòng theo vị trụ trì. Cách chắc chắn nhất là hỏi chư tăng, ni đang trụ trì hoặc tìm bia tháp trong chùa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183