DaoPhap.comĐạo Pháp
Thiền phái và cao tăng trong sử Việt

Khuông Việt và Pháp Thuận: hai thiền sư giúp việc nước thời Đinh – Tiền Lê

Ngô Chân Lưu được phong Tăng thống hiệu Khuông Việt, Đỗ Pháp Thuận được hỏi vận nước và tiếp sứ Tống. Bài kể vì sao các thiền sư thế kỷ X gánh cả việc đời.

Wide view of a limestone landscape near Hoa Lu in Ninh Binh at early morning, a small boat with a rower seen from behind on a calm river, mist between karst peaks

Khuông Việt (933–1011), tên thật Ngô Chân Lưu, và Pháp Thuận (915–990), họ Đỗ, là hai thiền sư được hai triều Đinh và Tiền Lê trọng dụng trong việc nước ở thế kỷ X. Khuông Việt được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống năm 971, là người đầu tiên giữ chức đứng đầu giới tăng sĩ theo sử chép; Pháp Thuận được vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước và tham gia tiếp đón sứ thần nhà Tống. Cả hai đều có thơ văn được xem là thuộc lớp tác phẩm văn học viết sớm nhất của nước ta.

Bài này kể hành trạng hai vị theo Thiền uyển tập anh và Đại Việt sử ký toàn thư, giải thích vì sao một quốc gia vừa giành độc lập cần đến các nhà sư, và lưu ý những chỗ cần đọc dè dặt. Bài không bình giảng thơ; người muốn đọc kỹ tác phẩm có thể tìm các tuyển tập thơ văn Lý – Trần, phần đầu thường có thơ đời Đinh – Lê.

Nước Đại Cồ Việt non trẻ và nhu cầu người biết chữ

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong cảnh mười hai sứ quân, lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Một nhà nước độc lập cần nhiều việc mà trước đó do bộ máy đô hộ đảm nhiệm: soạn văn thư, giao thiệp với triều đình phương Bắc, tổ chức nghi lễ, giữ sổ sách.

Lúc ấy, Nho học trong nước chưa có trường lớp, khoa cử chưa mở; phải đến thời Lý mới có khoa thi đầu tiên. Người đọc thông chữ Hán, hiểu văn chương, biết lễ nghi chủ yếu nằm trong các chùa. Các nhà sư học kinh điển, chép kinh, giao lưu với tăng sĩ phương Bắc, nên có vốn chữ và hiểu biết rộng hơn phần lớn người đương thời.

Vì thế, việc hai triều Đinh, Tiền Lê dựa vào các thiền sư không phải chuyện ưu ái riêng một tôn giáo, mà là lựa chọn thực tế của một nhà nước còn thiếu người. Nói như vậy để hiểu đúng vai trò của Khuông Việt và Pháp Thuận: họ là những trí thức của thời mình, được mời giúp những việc cần đến chữ nghĩa và sự hiểu biết.

Khuông Việt Ngô Chân Lưu: vị Tăng thống đầu tiên

Xuất thân và thầy học. Theo Thiền uyển tập anh, Ngô Chân Lưu người hương Cát Lợi, từ nhỏ học Nho rồi theo Phật, thụ giới với thiền sư Vân Phong ở chùa Khai Quốc. Ông thuộc đời thứ tư của dòng Vô Ngôn Thông.

Năm 971. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm này vua Đinh Tiên Hoàng định phẩm cấp cho văn võ, tăng đạo: Ngô Chân Lưu được làm Tăng thống, ban hiệu Khuông Việt Đại sư; cùng lúc có người giữ chức Tăng lục và một đạo sĩ được ban chức cho bên Đạo giáo. Chữ "Khuông Việt" có nghĩa là giúp đỡ, sửa sang nước Việt.

Dưới triều Tiền Lê. Khi Lê Hoàn lên ngôi, Khuông Việt vẫn được trọng, thường được hỏi về việc quân, việc nước. Ông tham gia việc tiếp đón sứ thần nhà Tống và để lại một bài từ tiễn sứ.

Cuối đời. Về già ông lui về núi Vệ Linh, nay ở vùng Sóc Sơn, Hà Nội, dựng chùa để tu và dạy học trò. Ông mất năm 1011, đầu triều Lý, truyền pháp cho đệ tử là Đa Bảo. Như vậy cuộc đời ông trải qua nhiều biến động: sinh ra trước khi Ngô Quyền xưng vương, trưởng thành qua thời loạn sứ quân, làm Tăng thống thời Đinh, được trọng thời Tiền Lê và mất khi nhà Lý vừa dựng nghiệp — một cuộc đời gần như song hành với buổi đầu độc lập của đất nước.

Pháp Thuận: người được hỏi về vận nước

Xuất thân và dòng thiền. Pháp Thuận họ Đỗ, theo sách thì học rộng, giỏi văn. Ông xuất gia từ nhỏ, học với thiền sư Long Thọ Phù Trì và thuộc đời thứ mười của dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Được vua tin cậy. Sách chép khi Lê Đại Hành mới lên ngôi, ông đã giúp sức nhiều về mưu lược. Vua không gọi ông bằng tên mà gọi là "Đỗ pháp sư", và giao cho các việc văn thư, giao thiệp.

Bài thơ về vận nước. Khi vua hỏi về vận nước dài ngắn, Pháp Thuận trả lời bằng một bài thơ bốn câu, đời sau quen gọi là bài Quốc tộ. Ý bài ví vận nước như dây leo quấn quýt, muốn nước yên thì triều đình trị nước theo lối vô vi, để nơi nơi dứt can qua. Đây được coi là một trong những bài thơ chữ Hán có tác giả sớm nhất của nước ta còn lại.

Mất năm 990. Ông mất dưới triều Tiền Lê, thọ khoảng bảy mươi sáu tuổi theo sách chép. Không có ghi chép rõ về chùa ông trụ trì lâu dài. Học trò của ông được sách nhắc tên là thiền sư Ma Ha, người cũng gắn với triều Tiền Lê.

Đón sứ Tống năm 987: câu chuyện được kể nhiều nhất

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác sang Đại Cồ Việt. Theo Thiền uyển tập anh, vua Lê Đại Hành giao cho Pháp Thuận cải trang làm người chèo đò ra đón sứ. Trên sông, thấy đôi ngỗng bơi, Lý Giác ngâm hai câu thơ, Pháp Thuận vừa chèo vừa đối tiếp hai câu. Sứ Tống ngạc nhiên vì người lái đò nước Nam cũng giỏi thơ. Về sau, khi Lý Giác về nước, Khuông Việt được giao làm bài từ tiễn biệt, thường được gọi là bài Vương lang quy.

Câu chuyện này có mặt trong hầu hết sách giới thiệu văn học Việt thời trung đại. Ở góc sử, giới nghiên cứu lưu ý rằng chi tiết cải trang làm lái đò mang dáng dấp giai thoại; điều chắc chắn hơn là các thiền sư tham gia công việc ngoại giao, và triều Tiền Lê muốn cho sứ Tống thấy nước Nam có người văn học.

Một chi tiết đáng chú ý: cả hai bài thơ liên quan đến sứ Tống đều làm theo thể thơ, thể từ của Trung Hoa đương thời. Điều đó cho thấy các thiền sư nắm vững văn chương Hán học, đủ sức đối đáp ngang hàng với một sứ thần được triều Tống chọn lựa. Ngoại giao thời ấy là ngoại giao bằng chữ nghĩa, và các nhà sư là người giữ thế của nước nhà trên mặt trận ấy.

Bộ máy tăng quan buổi đầu và những gì nối theo

Quyết định năm 971 của vua Đinh Tiên Hoàng đáng chú ý không chỉ vì một cá nhân được phong chức, mà vì nó cho thấy nhà nước độc lập đầu tiên đã đặt Phật giáo, và cả Đạo giáo, vào khuôn khổ quản lý của triều đình. Tăng thống đứng đầu, Tăng lục phụ trách sổ sách, giấy tờ của giới tăng sĩ. Cách tổ chức này có gốc từ mô hình tăng quan của các triều đại phương Bắc, được điều chỉnh cho một nước nhỏ.

Sang thời Lý, triều đình tiếp tục phong chức, ban hiệu cho các nhà sư, đặc biệt là danh hiệu quốc sư dành cho những vị được vua tôn làm thầy. Thời Trần, bên cạnh các chức vị do triều đình phong, dòng Trúc Lâm còn tự tổ chức theo kiểu một giáo đoàn. Đến thời Lê sơ, khi Nho giáo lên ngôi, nhà nước siết chặt việc quản lý tăng sĩ, thi tuyển người xuất gia.

Nhìn theo mạch ấy, Khuông Việt đứng ở điểm khởi đầu của một quan hệ kéo dài nhiều thế kỷ giữa nhà nước và giới tăng sĩ Việt Nam. Bài không đánh giá quan hệ đó tốt hay xấu; chỉ ghi nhận rằng nó bắt đầu từ một nhu cầu rất thực tế của triều Đinh.

Hai thiền sư cạnh nhau

Hai vị cùng thời, cùng phục vụ triều Tiền Lê, nhưng thuộc hai dòng thiền khác nhau và để lại hai kiểu dấu ấn. Bảng dưới gom các thông tin theo sách phổ thông.

Khuông ViệtPháp Thuận
Tên tụcNgô Chân LưuHọ Đỗ (tên tục không rõ)
Năm sinh – mất933–1011915–990
Thiền pháiVô Ngôn Thông, đời 4Tỳ-ni-đa-lưu-chi, đời 10
Chức vị, danh hiệuTăng thống, hiệu Khuông Việt Đại sư (971)Được gọi là Đỗ pháp sư
Việc gắn với tênTham gia việc nước, tiếp sứ, tiễn sứCố vấn vận nước, tiếp sứ Tống
Tác phẩm được nhắcBài từ tiễn sứ thường gọi là Vương lang quyBài thơ thường gọi là Quốc tộ

Các tên bài thơ trong bảng là tên đời sau đặt để tiện gọi; trong nguồn gốc, chúng được chép kèm tiểu truyện của tác giả chứ không có nhan đề. Đây là điều thường thấy với thơ văn thời rất sớm.

Đọc tư liệu về hai thiền sư cho đúng mực

Vì tư liệu về thế kỷ X rất ít, mỗi chi tiết về Khuông Việt và Pháp Thuận đều được trích đi trích lại. Mấy lưu ý dưới đây giúp bạn khỏi lặp lại những sai sót phổ biến:

  • Chức Tăng thống năm 971 có trong chính sử, có thể dẫn với độ tin cậy cao. Còn những chi tiết đối thoại giữa vua và thiền sư chủ yếu đến từ Thiền uyển tập anh, viết sau vài trăm năm.
  • Văn bản thơ có nhiều dị bản. Bài Quốc tộ và bài từ tiễn sứ được chép lại qua nhiều sách, có chữ khác nhau. Khi trích, hãy ghi bản bạn dùng.
  • Đừng gọi họ là "quan". Họ được ban chức vị trong hệ thống tăng quan và được hỏi ý, nhưng không phải quan lại theo nghĩa của bộ máy Nho giáo đời sau.
  • Tránh nói "Phật giáo là quốc giáo". Cách nói này phổ biến trên mạng nhưng giới sử học dùng rất dè dặt; triều Đinh cũng ban chức cho cả đạo sĩ bên Đạo giáo.
  • Phần thần dị như chuyện Khuông Việt nằm mộng thấy thần nhân, được kể kèm tiểu truyện, nên ghi rõ là theo sách chép.

Với những lưu ý ấy, hai thiền sư hiện ra như những con người thật: có học vấn, có tâm huyết với đất nước, sống trong một thời cần đến họ.

Câu hỏi thường gặp

Tăng thống là chức gì?

Tăng thống là chức vị đứng đầu giới tăng sĩ do triều đình phong, phụ trách các việc chung của Phật giáo trong nước. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 971 Ngô Chân Lưu được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức này, kèm hiệu Khuông Việt Đại sư.

Khuông Việt nghĩa là gì?

Khuông có nghĩa là giúp đỡ, sửa cho ngay ngắn; Khuông Việt là giúp đỡ, sửa sang nước Việt. Danh hiệu cho thấy triều đình nhìn vị thiền sư như người có công với quốc gia chứ không chỉ là người tu hành.

Bài thơ Quốc tộ của Pháp Thuận nói về điều gì?

Bài thơ trả lời câu hỏi của vua Lê Đại Hành về vận nước, ví vận nước như dây leo quấn quýt và cho rằng muốn nước yên bình thì triều đình nên trị nước theo lối vô vi, để khắp nơi không còn binh đao. Nên đọc kèm phiên âm và dịch nghĩa.

Chuyện Pháp Thuận giả làm lái đò có thật không?

Chuyện được chép trong Thiền uyển tập anh và được kể lại rất nhiều. Giới nghiên cứu xem chi tiết cải trang mang dáng giai thoại; phần đáng tin hơn là các thiền sư thật sự tham gia tiếp sứ nhà Tống năm 987.

Vì sao thời Đinh – Lê vua lại dựa vào nhà sư?

Thế kỷ X Nho học chưa phát triển, chưa có khoa cử, người giỏi chữ Hán và hiểu lễ nghi chủ yếu là các nhà sư. Một nhà nước mới độc lập cần những người như vậy cho việc văn thư, ngoại giao, nên mời các thiền sư giúp sức.

Có di tích nào gắn với Khuông Việt không?

Sách chép về già ông dựng chùa ở núi Vệ Linh, vùng Sóc Sơn nay thuộc Hà Nội. Các công trình hiện có ở vùng này đã qua nhiều lần xây dựng lại; nên hỏi ban quản lý di tích để biết nơi nào được ghi nhận gắn với ông.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183