DaoPhap.comĐạo Pháp
Chùa cổ Việt Nam: đọc một ngôi chùa

Kiến trúc chùa Nam Bộ của người Kinh: từ chùa gỗ thời khẩn hoang đến chùa Âu – Á

Chùa Nam Bộ của người Kinh có các toà nối tiếp theo chiều sâu, rừng cột gỗ, bao lam chạm thủng, rồi về sau pha Âu – Á và kiểu tịnh xá bát giác. Đọc qua từng giai đoạn.

Dim interior of an old southern Vietnamese pagoda, rows of dark wooden columns and gilded carved screens, warm light from open side doors, a monk far away seen from behind

Chùa của người Kinh ở Nam Bộ thường gồm nhiều toà nối tiếp nhau theo chiều sâu, chính điện, nhà Tổ, nhà trai liền một khối dưới mái thấp; bên trong là rừng cột gỗ và những bức bao lam chạm thủng sơn son thếp vàng. Từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều chùa xây lại bằng gạch, xi măng, pha kiểu trang trí Âu – Á; thế kỷ XX có thêm kiểu tịnh xá của hệ phái Khất sĩ và những ngôi chùa bê tông nhiều tầng.

Bài này đi theo các giai đoạn: chùa ra đời trong hành trình khẩn hoang, bố cục đặc trưng, không gian bên trong, sự pha trộn Âu – Á, những ngôi chùa hay được nhắc khi bàn kiến trúc, quan hệ giữa chùa và sông nước miền Tây, và cách phân biệt chùa Kinh, chùa Hoa, chùa Khmer khi nhìn từ ngoài. Chùa Khmer có bài riêng vì thuộc một truyền thống khác hẳn.

Chùa ra đời trong hành trình khẩn hoang

Người Việt vào Nam Bộ thành từng đợt từ thế kỷ XVII, lập làng dọc các giồng đất, ven sông rạch. Cùng với đình và miếu, chùa được dựng như một chỗ dựa tinh thần của lưu dân. Nhiều chùa đầu tiên chỉ là am tranh, mái lá, do một vị sư hay một nhóm cư sĩ dựng, rồi dần dần được tu bổ thành chùa gỗ lợp ngói khi làng khá lên.

Phật giáo Nam Bộ thời kỳ này chịu ảnh hưởng của các thiền sư từ Đàng Trong và từ Trung Hoa sang, phần lớn thuộc thiền phái Lâm Tế. Các tổ đình ở vùng Gia Định xưa, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, trở thành nơi đào tạo tăng chúng và từ đó chùa lan ra khắp miền Tây.

Vì ra đời trong hoàn cảnh khẩn hoang, chùa Nam Bộ thường giản dị về hình khối nhưng rộng rãi bên trong, đủ chỗ cho đông người đến lễ, ăn cơm chùa, nghỉ lại. Tính cộng đồng và tính mở là nét nổi bật: chùa vừa là nơi thờ Phật, vừa là chỗ hội họp, cứu tế, dạy chữ trong những giai đoạn làng còn thiếu thiết chế khác.

Bố cục: các toà nối tiếp theo chiều sâu

Bố cục phổ biến của chùa Nam Bộ người Kinh là các toà nhà đặt nối tiếp nhau trên một trục dọc: chính điện phía trước, sau đó là giảng đường hay nhà Tổ, cuối cùng là nhà trai, nhà bếp. Các toà sát nhau, có khi chung tường, nối bằng những khoảng sân nhỏ hay giếng trời. Nhìn từ trên xuống, cả khối chùa là một dải nhà dài, khác hẳn mặt bằng chữ đinh của Bắc Bộ hay chữ khẩu của Huế.

Mỗi toà thường là kiểu nhà nhiều gian, mái lợp ngói âm dương hay ngói ống, độ dốc vừa phải. Nền nhà không cao như chùa trên đồi ở Huế, phù hợp với địa hình đồng bằng thấp. Hai bên chính điện có thể có hành lang hay dãy phòng phụ.

Đi từ cửa trước vào, bạn sẽ đi xuyên qua cả chuỗi không gian: chính điện thờ Phật, nhà Tổ thờ các đời tổ sư với bàn thờ và di ảnh, rồi tới nơi sinh hoạt. Cách bố trí này khiến chùa Nam Bộ có cảm giác sâu hun hút, ánh sáng giảm dần theo từng toà, tương tự ý đồ "càng sâu càng tĩnh" của chùa Bắc nhưng bằng một hình khối khác.

Các giai đoạn kiến trúc chùa Nam Bộ người Kinh

Đây là cách chia gần đúng để dễ hình dung; các giai đoạn đan xen và một ngôi chùa thường mang dấu ấn của nhiều giai đoạn sau các lần trùng tu.

Giai đoạnĐặc điểm nổi bậtVật liệu
Thế kỷ XVII–XVIIIAm tranh rồi chùa gỗ nhỏ, mái thấp, theo nếp nhà ở của lưu dânGỗ, tre, lá, về sau ngói
Thế kỷ XIXTổ đình gỗ lớn, rừng cột, bao lam chạm thủng, ảnh hưởng thợ người HoaGỗ quý, ngói âm dương, gốm trang trí
Cuối XIX – đầu XXXây lại bằng gạch, xi măng, mặt tiền pha trang trí phương Tây, vòm, cột kiểu ÂuGạch, xi măng, kính màu, gạch bông
Từ giữa thế kỷ XXTịnh xá Khất sĩ với chánh điện hình bát giác, kiến trúc giản dịGạch, bê tông, mái ngói
Gần đâyChùa bê tông nhiều tầng, tháp cao, khuôn viên rộngBê tông cốt thép, sơn, đá ốp

Dấu hiệu nhận biết nhanh: nếu bên trong còn rừng cột gỗ và bao lam chạm thì phần lõi chùa có thể giữ được kết cấu thế kỷ XIX; nếu mặt tiền có vòm cuốn, hoa văn kiểu Âu thì nhiều khả năng đã xây lại vào đầu thế kỷ XX.

Rừng cột gỗ và bao lam chạm thủng

Bước vào chính điện một tổ đình cổ ở Nam Bộ, ấn tượng đầu tiên thường là số cột gỗ dày đặc, nhiều hàng song song, đỡ một mái rộng. Cột tròn, to, có khi khắc câu đối dọc thân. Ánh sáng chủ yếu đi vào từ cửa trước và cửa hông, phần sâu bên trong tối và trầm.

Bao lam là những khung gỗ chạm thủng nhiều lớp, treo giữa các hàng cột, chia không gian chính điện thành từng lớp nhìn xuyên qua được. Đề tài chạm thường là hoa lá, chim muông, rồng phượng, có khi cả cảnh vật miệt vườn như trái cây phương Nam. Bao lam được sơn son thếp vàng, tạo những khung sáng tối đan xen rất đặc trưng.

Nghề chạm gỗ Nam Bộ thế kỷ XIX phát triển mạnh, có sự tham gia của thợ người Việt và người Hoa. Khi tham quan, bạn có thể so bao lam ở các tổ đình với chạm khắc trên đầu dư chùa Bắc hay trên xuyên trến chùa Huế: cùng là gỗ, nhưng mỗi vùng một thẩm mỹ. Hãy nhớ đây là cấu kiện dễ hư, xin đừng chạm tay vào lớp thếp vàng.

Những chùa thường được nhắc khi bàn kiến trúc

Danh sách dưới là các ví dụ sách vở hay dẫn ra, nêu ở góc kiến trúc. Lộ trình đi lại đã có bài riêng; thông tin niên đại chi tiết nên tra hồ sơ di tích.

  • Chùa Giác Lâm (TP. Hồ Chí Minh): tổ đình có từ giữa thế kỷ XVIII, thường được nêu làm ví dụ cho kiểu chùa gỗ nhiều hàng cột, bao lam chạm.
  • Chùa Giác Viên (TP. Hồ Chí Minh): hay được nhắc cùng Giác Lâm vì nội thất gỗ chạm phong phú.
  • Chùa Vĩnh Tràng (Đồng Tháp, trước thuộc Tiền Giang): mặt tiền nổi tiếng vì pha trộn kiểu trang trí Á – Âu, ví dụ tiêu biểu cho giai đoạn đầu thế kỷ XX.
  • Chùa Tây An (An Giang): dưới chân núi Sam, được nhắc vì kiến trúc mái vòm mang dáng dấp Ấn Độ, khác hẳn chùa Việt thông thường.
  • Các tịnh xá của hệ phái Khất sĩ: nhiều nơi có chánh điện bát giác, mái chồng, là kiểu kiến trúc riêng của hệ phái ra đời ở Nam Bộ thế kỷ XX.

Mỗi nơi đều là chốn thờ tự đang hoạt động, không phải bảo tàng. Hãy đi vào giờ phù hợp và theo hướng dẫn của nhà chùa.

Gốm, kính màu và gạch bông: vật liệu đổi theo thời

Gốm men màu trên mái. Nhiều chùa Nam Bộ thế kỷ XIX gắn tượng gốm và mảng gốm men xanh, vàng trên bờ nóc, phần nhiều chịu ảnh hưởng của lò gốm và thợ người Hoa ở Chợ Lớn. Các hình hay gặp là rồng, cá hoá long, hoa lá, cảnh sinh hoạt.

Kính màu và cửa vòm. Từ đầu thế kỷ XX, một số chùa dùng cửa vòm có ô kính màu, cửa sổ kiểu Âu, lan can đúc. Đây là dấu hiệu của các đợt xây lại khi vật liệu nhập về phổ biến ở đô thị Nam Bộ.

Gạch bông lát nền. Gạch xi măng hoa văn, quen gọi gạch bông, được lát ở chính điện, nhà Tổ nhiều chùa cùng thời với nhà phố cổ. Hoa văn gạch bông là một manh mối để đoán niên đại lần xây lại.

Bê tông và đá ốp. Nửa sau thế kỷ XX đến nay, bê tông cốt thép thay dần gỗ ở phần khung, đá ốp và sơn thay cho chạm và thếp. Nhiều chùa giữ lại bao lam, tượng, cột gỗ cũ để đặt vào công trình mới, nên bên trong vẫn còn dấu vết thời trước.

Chùa và sông nước miền Tây

Ở miền Tây, nhiều chùa quay mặt ra sông rạch, có bến nước riêng. Ngày trước người ta đi chùa bằng xuồng, ghe; con đường thuỷ quan trọng hơn đường bộ. Vì vậy cổng chùa, sân chùa thường hướng về phía sông, và lối vào từ đường bộ có khi là cửa phụ phía sau.

Khuôn viên chùa miền Tây thường có vườn cây ăn trái, ao cá, hàng dừa, cau. Nền nhà được tôn cao vừa đủ để tránh nước nổi, mái rộng che mưa giông. Một số chùa vùng ngập lũ từng phải nâng nền nhiều lần, để lại những lớp bậc thềm chồng nhau dễ thấy.

Ngôi chùa miệt vườn vì thế mang dáng nhà vườn hơn là một tu viện khép kín: mở, thoáng, nhiều cây xanh, gần gũi với nhịp sống của xóm. Khi tìm hiểu một ngôi chùa ở đây, đừng chỉ nhìn chính điện; quan sát cả bến nước, lối đi và vườn cây để hiểu vì sao chùa được đặt ở đúng chỗ ấy.

Phân biệt chùa Kinh, chùa Hoa và chùa Khmer khi nhìn từ ngoài

Chùa của người Kinh. Mái ngói thấp, các toà nối tiếp theo chiều sâu, cổng tam quan có chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ, bên trong nhiều cột gỗ và bao lam. Thường có tượng Phật, Bồ Tát theo nếp Bắc tông.

Chùa và hội quán của người Hoa. Mái cong uốn mạnh, bờ nóc gắn tượng gốm men màu, cửa sơn đỏ, nhang vòng treo trên trần. Nhiều nơi thờ cả Phật và các vị thần trong tín ngưỡng người Hoa; có nơi là hội quán của một bang.

Chùa Khmer. Mái nhọn nhiều tầng, đầu mái vươn hình rắn Naga, tường màu vàng hoặc trắng, chánh điện đứng trên nền cao giữa khuôn viên rộng, quanh có các tháp cốt. Đây là chùa Phật giáo Nam tông với truyền thống kiến trúc riêng.

Cẩn thận khi kết luận. Một chùa có thể pha trộn: chùa Kinh xây lại theo mái kiểu Hoa, chùa mới mô phỏng tháp kiểu Khmer. Nếu không chắc, hãy hỏi người trong chùa thuộc hệ phái nào; đó là câu hỏi lịch sự và được trả lời vui vẻ ở hầu hết các nơi.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao chùa Nam Bộ có nhiều cột gỗ như vậy?

Chính điện chùa Nam Bộ thường rộng để chứa đông người, mái lớn và nặng nên cần nhiều hàng cột đỡ. Gỗ quý lại sẵn ở vùng đất mới khai phá, và thợ chạm tận dụng các hàng cột để treo bao lam, tạo những lớp không gian nối tiếp nhau.

Chùa Vĩnh Tràng có gì đặc biệt về kiến trúc?

Chùa Vĩnh Tràng được biết nhiều vì mặt tiền pha trộn kiểu trang trí Á Đông và phương Tây, với vòm cuốn, cột và hoa văn chịu ảnh hưởng châu Âu kết hợp mái và chạm khắc truyền thống. Đây là ví dụ hay được dùng cho giai đoạn đầu thế kỷ XX.

Tịnh xá khác chùa ở chỗ nào?

Tịnh xá là tên gọi nơi tu học của hệ phái Khất sĩ, ra đời ở Nam Bộ thế kỷ XX. Kiến trúc thường giản dị, nhiều nơi có chánh điện hình bát giác. Cách sinh hoạt và giáo lý của hệ phái có bài riêng; muốn hiểu sâu, bạn nên hỏi chư tăng, ni ở tịnh xá.

Chùa cổ Nam Bộ có lâu đời bằng chùa Bắc Bộ không?

Nhìn chung là trẻ hơn, vì người Việt vào Nam Bộ từ thế kỷ XVII. Các tổ đình lâu đời nhất có lịch sử khoảng ba thế kỷ, trong khi nhiều chùa Bắc Bộ có gốc từ thời Lý, Trần. Tuy vậy kiến trúc hiện còn ở cả hai vùng phần lớn là của thế kỷ XVII trở về sau.

Có nên gọi tất cả chùa ở Nam Bộ là chùa Nam tông không?

Không. Phần lớn chùa của người Kinh ở Nam Bộ theo Bắc tông; chùa Khmer theo Nam tông; ngoài ra có các tịnh xá Khất sĩ và một số chùa Nam tông của người Kinh. Gọi đúng hệ phái giúp tránh hiểu nhầm và thể hiện sự tôn trọng.

Làm sao biết chùa đã được xếp hạng di tích chưa?

Bạn có thể xem bảng thông tin di tích đặt tại chùa, hỏi nhà chùa hoặc tra danh mục di tích do cơ quan quản lý văn hoá cấp tỉnh và trung ương công bố. Danh mục được cập nhật theo thời gian nên hãy xem bản mới nhất.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183