Khương Tăng Hội (mất năm 280) là một nhà sư có tổ tiên người Khang Cư ở Trung Á, sinh trưởng và xuất gia ở Giao Chỉ, tức miền Bắc Việt Nam thời thuộc Hán – Ngô, rồi sang Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô thời Tam quốc, truyền đạo từ năm 247. Ông được sử Phật giáo Trung Hoa ghi nhận là người lập ngôi chùa đầu tiên ở vùng Giang Nam, và được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam coi là một trong những thiền sư sớm nhất gắn với đất Việt.
Bài này kể về con người và tác phẩm của ông, đặt ông bên cạnh các nhân vật Phật giáo khác ở Giao Chỉ cùng thời, và giải thích vì sao vị trí của ông trong lịch sử thiền Việt là đề tài còn được bàn. Phần lịch sử trung tâm Luy Lâu nói chung thuộc một mảng khác; ở đây chỉ nhắc tới khi cần cho câu chuyện về ông. Tên các vùng đất được ghi theo đơn vị hành chính hiện nay để bạn dễ hình dung.
Một gia đình buôn bán từ Trung Á đến Giao Chỉ
Nguồn chính về Khương Tăng Hội là bộ Cao tăng truyện do Tuệ Hạo biên soạn ở Trung Hoa vào thế kỷ VI, cùng một số ghi chép trong các mục lục kinh điển. Theo đó, tổ tiên ông là người nước Khang Cư, một vùng thuộc Trung Á; dòng họ sống nhiều đời ở Ấn Độ. Cha ông là thương nhân, vì việc buôn bán mà dời đến Giao Chỉ. Chữ "Khương" trong tên ông vốn chỉ gốc Khang Cư.
Chi tiết này cho thấy Giao Chỉ thế kỷ II – III là một điểm trên tuyến giao thương đường biển nối Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Hoa. Thương nhân, nhà sư từ phương Nam và phương Tây theo thuyền buôn đến đây trước khi lên phương Bắc. Đạo Phật có lẽ cũng theo con đường ấy mà vào miền Bắc nước ta, sớm hơn hoặc cùng lúc với con đường bộ qua Trung Hoa.
Khi Khương Tăng Hội khoảng hơn mười tuổi, cha mẹ đều mất. Ông xuất gia, chuyên tâm học hỏi, thông hiểu kinh điển, biết nhiều ngôn ngữ và văn chương Hán. Nơi ông học và tu cụ thể ở Giao Chỉ không được sách ghi rõ; các nhà nghiên cứu thường đặt ông trong bối cảnh trung tâm Phật giáo Luy Lâu, vùng Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Sang Kiến Nghiệp và lập chùa Kiến Sơ
Năm 247. Theo Cao tăng truyện, ông rời Giao Chỉ đến Kiến Nghiệp, vùng Nam Kinh ngày nay, kinh đô nước Ngô của Tôn Quyền. Lúc ấy Phật giáo ở Giang Nam còn rất mới, người dân và quan lại phần lớn chưa biết đến nhà sư.
Được vua Ngô tin. Sách chép rằng Tôn Quyền nghi ngờ, đòi chứng nghiệm, và Khương Tăng Hội đã thuyết phục được nhà vua. Câu chuyện có màu sắc thần dị theo lối truyện cao tăng; điều được ghi nhận là ông được phép lập chùa và truyền đạo.
Chùa Kiến Sơ. Ngôi chùa được dựng cho ông mang tên Kiến Sơ, nghĩa là "dựng lần đầu", được sử Phật giáo Trung Hoa coi là ngôi chùa đầu tiên ở Giang Nam. Lưu ý: chùa Kiến Sơ này ở Nam Kinh, khác hẳn chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng, Hà Nội, nơi thiền sư Vô Ngôn Thông trụ hơn năm thế kỷ sau.
Mất năm 280. Ông sống ở Kiến Nghiệp đến cuối đời, trải qua các đời vua Ngô, mất năm 280, đúng năm nước Ngô bị nhà Tấn thống nhất.
Tác phẩm gắn với Khương Tăng Hội
Khương Tăng Hội không chỉ truyền đạo mà còn dịch, biên soạn và chú giải kinh. Bảng dưới liệt kê những tác phẩm hay được nhắc trong các nghiên cứu phổ thông; tình trạng văn bản có khác nhau.
| Tác phẩm | Loại | Ghi chú |
|---|---|---|
| Lục độ tập kinh | Biên dịch, tập hợp các truyện tiền thân | Còn trong Đại tạng; nhiều truyện mang dáng dấp văn hoá phương Nam, được giới nghiên cứu Việt Nam chú ý |
| Bài tựa An ban thủ ý kinh | Lời tựa và chú giải một kinh về phép quán hơi thở | Bài tựa còn; được coi là tư liệu sớm về thiền học bằng chữ Hán |
| Bài tựa Pháp kính kinh | Lời tựa | Còn bài tựa |
| Chú giải Đạo thụ kinh | Chú giải | Sách mục lục có ghi; văn bản phần lớn không còn |
Vì những bài tựa có nói về phép thiền định, đặc biệt về quán hơi thở, các nhà nghiên cứu cho rằng Khương Tăng Hội đã trình bày thiền học từ khá sớm, trước khi Thiền tông theo nghĩa hẹp hình thành ở Trung Hoa. Phần nội dung tu tập trong các văn bản ấy, nếu bạn muốn tìm hiểu, nên học cùng chư tăng, ni.
Những người cùng thời ở Giao Chỉ
Khương Tăng Hội không phải nhân vật Phật giáo duy nhất ở Giao Chỉ thế kỷ II – III. Mâu Tử, một trí thức người phương Bắc tránh loạn cuối đời Hán mà đến Giao Chỉ, đã viết Lý hoặc luận, một tác phẩm hỏi đáp giải thích đạo Phật cho người theo Nho, Lão. Đây được xem là một trong những văn bản sớm nhất bàn về Phật giáo bằng chữ Hán.
Sử liệu Phật giáo còn nhắc tới các nhà sư từ phương Tây và phương Nam đi qua Giao Châu, như Chi Cương Lương Tiếp được ghi là dịch kinh tại đây vào giữa thế kỷ III, hay Ma-ha-kỳ-vực trên đường đến Lạc Dương. Thời thứ sử Sĩ Nhiếp cai quản, sách sử Trung Hoa còn ghi cảnh người Hồ đốt hương đi theo đoàn xe của ông, mà các nhà nghiên cứu thường hiểu là sự hiện diện của tăng sĩ, tín đồ ngoại quốc.
Ghép các mảnh tư liệu ấy lại, giới nghiên cứu hình dung Giao Chỉ lúc đó là một nơi Phật giáo có mặt sớm, có người dịch kinh, có người viết sách giải thích, có cả người được đào tạo ở đây rồi đi truyền đạo nơi khác. Khương Tăng Hội là ví dụ rõ nhất cho chiều đi ra ấy.
Vì sao có ý kiến coi ông là tổ thiền Việt
Các bộ sử Phật giáo Việt Nam truyền thống, như Thiền uyển tập anh, đặt điểm khởi đầu thiền học Việt Nam ở Tỳ-ni-đa-lưu-chi năm 580. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu Phật giáo hiện đại cho rằng nếu tính cả thiền học trước khi Thiền tông Trung Hoa hình thành, thì Khương Tăng Hội, người xuất gia và học đạo ở Giao Chỉ, có những bài viết về thiền định từ thế kỷ III, nên được coi là một vị tổ sớm của thiền Việt.
Ý kiến này có những lý lẽ đáng chú ý: ông được đào tạo trên đất Việt, văn bản của ông còn lại, và nội dung bàn về thiền định khá rõ. Phía dè dặt thì nhấn mạnh rằng ông hoạt động chủ yếu ở Kiến Nghiệp, không để lại một dòng truyền thừa được ghi nhận ở Giao Chỉ, và khái niệm "thiền phái" thường gắn với phả hệ thầy – trò liên tục.
Bài không chọn bên. Với người đọc phổ thông, điều đáng giữ là: dù xếp ông vào đâu, Khương Tăng Hội là bằng chứng rằng Giao Chỉ thế kỷ III đã đủ sức đào tạo một nhà sư có tầm vóc ảnh hưởng ra ngoài biên giới. Ai muốn đi sâu tranh luận này có thể đọc các công trình lịch sử Phật giáo Việt Nam đã xuất bản và đối chiếu lập luận của từng tác giả.
Dòng thời gian Phật giáo Giao Chỉ quanh Khương Tăng Hội
Đặt các mốc theo thứ tự giúp thấy Khương Tăng Hội ở đâu trong bức tranh chung. Các năm dưới đây là năm theo sách chép, có mốc chỉ là khoảng ước đoán của giới nghiên cứu:
- Cuối thế kỷ II: Trung Hoa loạn lạc cuối đời Hán, nhiều trí thức tránh nạn xuống Giao Chỉ; Mâu Tử viết Lý hoặc luận trong bối cảnh này.
- Cuối thế kỷ II – đầu thế kỷ III: Sĩ Nhiếp cai quản Giao Chỉ trong một thời gian dài, vùng đất tương đối yên ổn, trung tâm Luy Lâu phát triển; sách sử ghi có người Hồ đi theo đoàn xe của ông.
- Đầu thế kỷ III: Khương Tăng Hội sinh trưởng ở Giao Chỉ, mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ và xuất gia.
- Năm 247: Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, nước Ngô; chùa Kiến Sơ được dựng.
- Giữa thế kỷ III: Chi Cương Lương Tiếp được ghi là dịch kinh ở Giao Châu.
- Năm 280: Khương Tăng Hội mất; nước Ngô bị nhà Tấn thống nhất.
Từ mốc cuối cùng đến khi Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến chùa Pháp Vân năm 580 là khoảng ba trăm năm. Tư liệu về giai đoạn ở giữa rất thưa, chỉ có rải rác tên các nhà sư người Giao Châu được nhắc trong sách Trung Hoa. Khoảng trống ấy là một lý do khiến việc nối Khương Tăng Hội với các dòng thiền về sau trở nên khó.
Khi viết về Khương Tăng Hội, nên tránh gì
Vì tư liệu ít và nhân vật được nhiều nước cùng quan tâm, những lỗi sau đây khá phổ biến trong bài viết phổ thông:
- Gọi ông là "người Việt" theo nghĩa hiện đại. Ông có tổ tiên gốc Trung Á, sinh trưởng ở Giao Chỉ; nói "nhà sư sinh trưởng, xuất gia ở Giao Chỉ" là chính xác hơn.
- Nhầm hai chùa Kiến Sơ. Chùa ông lập ở Nam Kinh; chùa Kiến Sơ ở Phù Đổng gắn với Vô Ngôn Thông.
- Khẳng định ông tu ở một ngôi chùa cụ thể tại Bắc Ninh. Nguồn không ghi; các liên hệ địa phương là suy đoán của đời sau.
- Trích nguyên văn các bài tựa mà không ghi bản dịch. Văn bản cổ, nhiều chữ khó; dẫn sai dễ làm lệch nghĩa.
- Kể chuyện thần dị như sự thật. Các chi tiết chứng nghiệm trước vua Ngô thuộc thể truyện cao tăng.
Giữ được mấy điều ấy, bài viết của bạn sẽ vừa tôn trọng nhân vật vừa đứng vững trước người đọc am hiểu. Với một nhân vật sống cách nay gần hai nghìn năm, sự dè dặt đúng chỗ là phần quan trọng của sự chính xác.
Câu hỏi thường gặp
Khương Tăng Hội là người nước nào?
Tổ tiên ông là người Khang Cư ở Trung Á, sống nhiều đời ở Ấn Độ; cha ông buôn bán sang Giao Chỉ. Ông sinh trưởng và xuất gia ở Giao Chỉ, tức miền Bắc Việt Nam thời Bắc thuộc, rồi sang nước Ngô truyền đạo.
Khương Tăng Hội sang Trung Hoa năm nào?
Theo Cao tăng truyện, ông đến Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô, vào năm 247. Ông ở đó truyền đạo, dịch và chú giải kinh cho đến khi mất năm 280.
Lục độ tập kinh là gì?
Đây là bộ kinh tập hợp các truyện tiền thân, xếp theo sáu hạnh ba-la-mật, do Khương Tăng Hội biên dịch. Văn bản còn trong Đại tạng chữ Hán và được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm vì có thể phản ánh môi trường văn hoá Giao Chỉ.
Khương Tăng Hội có phải là thiền sư đầu tiên của Việt Nam không?
Một số nhà nghiên cứu hiện đại cho là như vậy vì ông học đạo ở Giao Chỉ và có viết về thiền định. Các bộ thiền sử truyền thống thì bắt đầu từ Tỳ-ni-đa-lưu-chi năm 580. Đây là vấn đề còn bàn, tuỳ cách định nghĩa thiền phái.
Mâu Tử và Khương Tăng Hội có liên quan gì?
Hai người đều gắn với Phật giáo Giao Chỉ thời rất sớm nhưng không có tư liệu cho thấy họ gặp nhau. Mâu Tử là trí thức phương Bắc đến Giao Chỉ viết Lý hoặc luận; Khương Tăng Hội là nhà sư lớn lên ở đây rồi đi truyền đạo.
Có nơi nào ở Việt Nam thờ Khương Tăng Hội không?
Một số chùa và cơ sở Phật giáo có thờ hoặc tưởng niệm ông như vị tổ sớm, nhưng không có di tích được sử liệu cổ xác nhận gắn trực tiếp với nơi ông tu. Muốn biết nơi nào thờ, bạn có thể hỏi chư tăng, ni ở địa phương.