DaoPhap.comĐạo Pháp
Thiền phái và cao tăng trong sử Việt

Ba thiền phái thời Lý: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường

Ba dòng thiền mà sử Phật giáo Việt Nam hay nhắc khi nói về thời Lý: ai khai lập, truyền ở đâu, những vị nào tiêu biểu và vì sao sách chia như vậy.

Wide morning view of an old pagoda roof among bamboo in Bac Ninh countryside, mist over rice fields, a lone figure in brown robe far away on a dirt path

Khi nói Phật giáo thời Lý có ba thiền phái, người ta muốn nói tới ba dòng truyền thừa được sách Thiền uyển tập anh (soạn đời Trần) ghi lại: dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi khởi từ cuối thế kỷ VI, dòng Vô Ngôn Thông khởi từ đầu thế kỷ IX, và dòng Thảo Đường do một nhà sư được vua Lý Thánh Tông tôn làm quốc sư ở nửa sau thế kỷ XI. Ba dòng này không phải ba "tông giáo" riêng biệt, cũng không phải ba tổ chức có trụ sở, mà là ba chuỗi thầy – trò được người đời sau xếp lại thành phả hệ.

Bài này đi qua từng dòng: người khai lập, nơi truyền, các vị tiêu biểu theo sách chép, và nét riêng mà các nhà nghiên cứu thường nêu. Cuối bài có một bảng đặt ba dòng cạnh nhau, cùng mấy điều nên dè dặt khi đọc phả hệ thiền. Phần giáo lý thiền định, cách tu tập cụ thể không thuộc phạm vi bài; muốn hiểu sâu phần ấy, bạn nên hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt.

Vì sao sử Phật giáo Việt Nam chia thành "ba thiền phái"

Cách chia ba dòng không do các thiền sư thời Lý tự đặt ra. Nó đến từ cấu trúc của Thiền uyển tập anh, bộ sách chữ Hán chép tiểu truyện các thiền sư từ thời Bắc thuộc tới đầu đời Trần. Sách xếp các vị theo đời truyền thừa: ai học với ai, đắc pháp với ai, thuộc đời thứ mấy của dòng nào. Từ cách xếp đó, giới nghiên cứu hiện đại gọi gọn thành "thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi", "thiền phái Vô Ngôn Thông" và "thiền phái Thảo Đường".

Mỗi thiền phái được gọi theo tên người khai sơn, tức vị thầy đầu tiên đem dòng ấy vào đất Việt. Hai vị đầu là người từ nơi khác đến Giao Châu thời Bắc thuộc; vị thứ ba đến Đại Việt trong hoàn cảnh chiến tranh thời Lý. Điều đáng chú ý là ba dòng có thời điểm vào nước ta cách nhau hàng trăm năm, nhưng đến thời Lý thì cùng tồn tại, cùng có người đỗ đạt, làm quốc sư, giao du với vua quan.

Cũng nên hiểu rằng ngoài ba dòng này, thời Lý còn nhiều nhà sư không được xếp vào phả hệ nào, nhiều ngôi chùa làng sinh hoạt theo nếp riêng. Phả hệ thiền là một cách kể lịch sử, giúp người đọc nắm được ai nối ai; nó không bao quát hết đời sống Phật giáo của cả một triều đại kéo dài hơn hai thế kỷ.

Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi: dòng có mặt sớm nhất

Người khai lập. Theo Thiền uyển tập anh, Tỳ-ni-đa-lưu-chi là nhà sư gốc Nam Ấn Độ, sang Trung Hoa thời Nam Bắc triều, theo học Tam tổ Tăng Xán của Thiền tông Trung Hoa, rồi xuống phương Nam. Sách chép ông đến Giao Châu vào năm 580 và trụ ở chùa Pháp Vân, tức vùng Luy Lâu nay thuộc Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Người nối pháp đầu tiên. Đệ tử được truyền tâm pháp là Pháp Hiền, về sau dựng chùa ở núi Thiên Phúc, quy tụ đông học trò. Tỳ-ni-đa-lưu-chi mất năm 594 theo sách chép, nghĩa là thời gian ông ở Giao Châu không dài, nhưng dòng do ông mở ra kéo dài tới khoảng đầu thế kỷ XIII.

Độ dài phả hệ. Dòng này được sách kể qua khoảng mười chín đời. Trong đó có những tên mà người học sử Việt sẽ gặp lại ở chỗ khác: Pháp Thuận thời Tiền Lê, Vạn Hạnh gắn với việc nhà Lý lên ngôi, Từ Đạo Hạnh với chùa Thầy. Phần lớn các vị khác chỉ còn vài dòng tiểu sử.

Nét riêng thường được nêu. Các nhà nghiên cứu hay nhận xét rằng dòng này có màu sắc mật giáo và sấm vĩ khá đậm: nhiều vị được chép là giỏi trì chú, đoán việc, được triều đình hỏi ý về vận nước. Nhận xét ấy dựa trên chính lời sách, mà sách lại viết theo lối truyện ký, nên người đọc hiện đại thường phân biệt phần hành trạng với phần thần dị được kể kèm.

Thiền phái Vô Ngôn Thông: dòng của chùa Kiến Sơ

Người khai lập. Vô Ngôn Thông là nhà sư người Quảng Châu, sách chép ông họ Trịnh, từng học với thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, một bậc thầy lớn của Thiền tông Trung Hoa thế kỷ VIII. Năm 820, ông sang Giao Châu, ở chùa Kiến Sơ thuộc làng Phù Đổng, nay ở Hà Nội. Tên "Vô Ngôn Thông" vốn là biệt danh, gợi lối sống ít nói của ông.

Truyền cho ai. Ở chùa Kiến Sơ, Vô Ngôn Thông truyền pháp cho Cảm Thành, một vị sư người địa phương đang trụ ở đó. Ông mất năm 826, chỉ sáu năm sau khi đến. Từ Cảm Thành, dòng nối tiếp qua nhiều đời, trong đó đời thứ tư là Khuông Việt Ngô Chân Lưu, vị Tăng thống đầu tiên dưới triều Đinh.

Có cả vua trong phả hệ. Điều khiến dòng Vô Ngôn Thông được nhắc nhiều là sự hiện diện của giới cầm quyền: vua Lý Thái Tông được sách xếp vào phả hệ của dòng này. Bên cạnh đó là các thiền sư như Mãn Giác, Thông Biện, Không Lộ… mỗi vị để lại một ít thơ kệ hoặc lời đối đáp.

Nét riêng thường được nêu. So với dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi, dòng này gần với lối Thiền tông Trung Hoa sau Lục tổ Huệ Năng, đề cao chỗ thấy tánh, ít chú trọng nghi thức. Nhận xét này mang tính khái quát; từng vị trong dòng vẫn có lối sống, mối quan tâm rất khác nhau.

Thiền phái Thảo Đường: dòng ra đời từ một cuộc chiến

Dòng thứ ba có gốc gác đặc biệt hơn cả. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành; trong số người bị bắt về có một nhà sư người Trung Hoa. Sách chép rằng nhà sư này về sau được giao làm người hầu cho một vị tăng lục ở kinh thành. Một hôm vị tăng lục đi vắng, nhà sư đọc bản ngữ lục để trên bàn và sửa vài chỗ sai. Chuyện đến tai vua, vua cho gọi đến hỏi, thấy ông thông hiểu thiền học, liền tôn làm quốc sư và cho ở chùa Khai Quốc tại Thăng Long. Người đời gọi ông là Thảo Đường.

Theo sách, Thảo Đường là học trò của Tuyết Đậu Trùng Hiển, một thiền sư thuộc tông Vân Môn bên Trung Hoa, nổi tiếng với các bài tụng về công án. Vì thế các nhà nghiên cứu thường cho rằng dòng Thảo Đường mang màu sắc văn chương, thích dùng thơ để bàn thiền, hợp với giới trí thức và cung đình.

Phả hệ dòng này ngắn, chỉ khoảng năm đời, nhưng điểm danh thì thấy nhiều vua và quan: vua Lý Thánh Tông là người nối pháp đời thứ nhất, về sau còn có vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông cùng một số đại thần. Nói cách khác, Thảo Đường giống một dòng thiền của triều đình hơn là của các sơn môn ở làng quê. Khi nhà Lý suy, dòng này cũng thưa dần trong sử sách.

Đặt ba dòng cạnh nhau

Bảng dưới gom các thông tin chính theo Thiền uyển tập anh và các sách nghiên cứu phổ thông. Năm tháng là năm sách chép; nơi chốn ghi theo đơn vị hành chính hiện nay.

Tỳ-ni-đa-lưu-chiVô Ngôn ThôngThảo Đường
Người khai lậpNhà sư gốc Nam Ấn, học với Tam tổ Tăng XánNhà sư Quảng Châu, học với Bách TrượngNhà sư Trung Hoa, học với Tuyết Đậu (tông Vân Môn)
Đến đất ViệtNăm 580Năm 820Sau trận năm 1069
Nơi khởi đầuChùa Pháp Vân, Luy Lâu (Bắc Ninh)Chùa Kiến Sơ, Phù Đổng (Hà Nội)Chùa Khai Quốc, Thăng Long (Hà Nội)
Độ dài phả hệKhoảng 19 đờiKhoảng 15–17 đời tuỳ cách đếmKhoảng 5 đời
Vài tên tiêu biểuPháp Hiền, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Từ Đạo HạnhCảm Thành, Khuông Việt, Lý Thái Tông, Mãn GiácLý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông
Nét hay được nêuĐậm chú thuật, sấm vĩ; gắn chùa làngGần lối thiền sau Huệ Năng; thiên về chỗ thấy tánhVăn chương, cung đình

Các con số trong bảng nên hiểu là con số của sách; các nhà nghiên cứu có lúc đếm lệch nhau một vài đời vì có vị không rõ thầy là ai. Điều quan trọng hơn là thấy được ba dòng đến từ ba bối cảnh khác nhau và phục vụ những tầng lớp người khác nhau trong xã hội Đại Việt.

Đọc phả hệ thiền cho tỉnh táo

Phả hệ ba dòng thiền thời Lý là tư liệu quý, nhưng cũng có những giới hạn mà người đọc phổ thông nên biết trước khi trích dẫn:

  • Sách viết sau sự kiện hàng trăm năm. Thiền uyển tập anh thành sách vào đời Trần, trong khi Tỳ-ni-đa-lưu-chi sống cuối thế kỷ VI. Khoảng trống ấy được lấp bằng truyền khẩu và văn bia, nên năm tháng các đời đầu khó kiểm chứng.
  • Có những quãng đứt. Một số chỗ trong phả hệ cách nhau quá xa so với tuổi thọ con người, hoặc ghi "không rõ" người truyền. Các nhà nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra những điểm này và đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau.
  • Phần thần dị đi kèm. Sách chép cả chuyện đoán trước, hoá thân, hiện điềm lạ. Đó là lối viết truyện ký của thời ấy; muốn bàn sử thì tách riêng phần hành trạng ra đọc.
  • Chia dòng không có nghĩa là đối lập. Thầy dòng này có khi học thêm với thầy dòng khác; vua quan cũng qua lại nhiều chùa. Ba dòng không cạnh tranh nhau như các tổ chức hiện đại.
  • Không đồng nhất với chùa hôm nay. Một ngôi chùa có tên trong sách không có nghĩa là công trình hiện còn có từ thời đó; phần lớn đã được dựng lại nhiều lần.

Hiểu các giới hạn ấy, bạn sẽ đọc phả hệ thiền như đọc một gia phả lâu đời: có phần chắc chắn, có phần được ghép nối, và giá trị nằm ở bức tranh chung hơn là từng con số.

Ba dòng thiền để lại gì cho đời sau

Sang đời Trần, cả ba dòng dần nhường chỗ cho Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền do vua Trần Nhân Tông khai lập cuối thế kỷ XIII. Nhưng Trúc Lâm không mọc lên từ khoảng trống: thầy học của các vị vua Trần, những ngôi chùa họ lui tới, và cả lối dùng thơ để nói thiền đều có gốc từ thời Lý. Các nhà nghiên cứu thường coi Trúc Lâm là nơi hội tụ các dòng trước đó.

Ba dòng thiền thời Lý còn để lại một ít thơ kệ chữ Hán mà ngày nay sách giáo khoa và các tuyển tập văn học Lý – Trần vẫn chọn. Đó là lý do tên Mãn Giác, Không Lộ, Vạn Hạnh xuất hiện trong cả sách văn lẫn sách sử. Khi gặp lại các tên ấy, bạn có thể đặt họ vào đúng dòng của mình nhờ phả hệ này.

Với người đi tham quan, ba dòng thiền còn gắn với những địa danh cụ thể: vùng Dâu ở Thuận Thành, làng Phù Đổng, khu vực núi Thiên Phúc ở Bắc Ninh. Các ngôi chùa ở đó đã qua nhiều lần trùng tu, nhưng đứng giữa sân chùa và biết rằng nơi này từng là điểm khởi đầu của một dòng thiền hơn một nghìn năm trước vẫn là một trải nghiệm đáng có.

Câu hỏi thường gặp

Thiền phái nào vào Việt Nam sớm nhất?

Theo Thiền uyển tập anh, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi vào sớm nhất, khởi từ năm 580 ở chùa Pháp Vân vùng Luy Lâu. Trước đó đã có các nhà sư như Khương Tăng Hội gắn với Giao Châu, nhưng họ không được xếp thành một thiền phái có phả hệ nối đời như ba dòng thời Lý.

Vì sao gọi là thiền phái thời Lý khi hai dòng đã có từ thời Bắc thuộc?

Vì thời Lý là lúc cả ba dòng cùng hiện diện và để lại nhiều tư liệu nhất, nhiều vị trong phả hệ sống và hoạt động dưới triều Lý. Cách gọi này là quy ước của sách sử phổ thông; các tài liệu kỹ hơn thường nói rõ mốc khởi đầu của từng dòng.

Ba thiền phái có còn truyền đến ngày nay không?

Theo sử liệu, cả ba dòng không còn được ghi nhận như những phả hệ riêng sau đời Trần. Các dòng thiền phổ biến ở Việt Nam hiện nay như Lâm Tế, Tào Động, Liễu Quán hay Trúc Lâm được phục hưng đều có lịch sử truyền thừa riêng, hình thành muộn hơn.

Thiền uyển tập anh có đáng tin không?

Đây là nguồn quan trọng nhất về thiền học thời Lý và đầu Trần, được giới nghiên cứu trong và ngoài nước dùng nhiều. Tuy vậy sách viết theo lối truyện ký, có phần thần dị và có chỗ năm tháng khó khớp, nên khi trích dẫn người ta thường đối chiếu với chính sử và văn bia.

Vua Lý thuộc thiền phái nào?

Sách xếp vua Lý Thái Tông vào dòng Vô Ngôn Thông, còn vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông vào dòng Thảo Đường. Việc vua có tên trong phả hệ cho thấy mối gắn bó giữa triều đình và giới thiền, nhưng không có nghĩa triều Lý chỉ theo một dòng.

Muốn tìm hiểu sâu về ba thiền phái nên đọc gì?

Bạn có thể bắt đầu từ bản dịch Thiền uyển tập anh có chú thích, rồi đọc các bộ lịch sử Phật giáo Việt Nam của các học giả đã xuất bản rộng rãi. Phần giáo lý thiền và cách tu thì nên hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt thay vì tự suy từ sách sử.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183